DẤU VẾT GỬI LẠI CHO CON
Các con yêu dấu,
Một người bạn, khi nghĩ đến sức khoẻ của Bố, vừa viết cho Bố một thư rất chân tình và khá dài. Bố trích một đoạn làm nhập đề bức thư gửi lại cho các con gọi là dấu vết:
« Con người là bộ máy sinh học mà Thiên Chúa tạo ra với nhiều chức năng và nhiệm vụ để thi hành cho một giai đoạn nào đó trong quá trình của trái đất. Khi mình cảm thấy chưa thích chết, thì đó là hiện tượng chưa hoàn thành nhiệm vụ. Nhưng khi đã hoàn thành xong nhiệm vụ rồi thì mình sẽ ra đi mà chẳng nuối tiếc gì nửa. Cứ vui lên đừng lo âu gì cả .»
Vâng, Bố cảm thấy chưa làm xong nhiệm vụ, ít nhất nhiệm vụ đó là của chính Bố đối với gia đình con cái, nên Bố chưa thích chết. Cũng bởi vì xưa nay, Bố chưa thấy ai viết về cái chết của chính mình mà chỉ thấy người ta viết về cái sống còn gọi là hồi ký của họ. Trong đó, phần lớn người ta sao chép hoặc ghi lại những thuở « oai hùng » mà họ đã đi qua, chẳng một lợi lộc gì cho người đọc. Vì vậy, hôm nay nhân ngày Toussaint, Bố cố gắng viết về cái chết, một dự phóng lạc lỏng có thể ích lợi cho tầm suy nghĩ tương lai của các con. Bố mong rằng dự phóng bài viết nầy không phải là bài cuối cùng.
Cái ảo và cái thật.
Hẵn các con khi đọc qua tiêu đề cũng dự đoán được Bố sẽ nói gì và viết gì. Thật ra, viết hay kể chuyện chưa hẵn là khó. Việc nầy Võ Dũng, anh các con, thừa hiểu vì từng là tác giả nhiều ấn phẩm. Cái khó nhất của người viết hay kể chuyện là làm sao vận dụng người đọc hoặc nghe qua, sẽ chấp nhận ý mình trình bày. Theo Bố thì điều tiên quyết cần nói là người viết hoặc kể chuyện, tốt nhất là nghĩ sao thì cứ nói vậy. Không nên tạo ra các điều cho người đọc (hay nghe) khó nghĩ. Ngoài ra, câu văn phải sáng sủa. nội dung phải rỏ ràng. ví dụ phải có cơ sở.
Đã 2 ngày nay, Bố đã vào bệnh viện Saint-Pierre để mổ tim lần thứ ba. Cũng như lần trước, bác sĩ sẽ bỏ «stens» vào trong động mạch cho máu chạy điều hòa. Trước khi ra đi, Bố cứ nghĩ ngày ra bệnh viện sẽ đúng ngày lễ Toussaint hôm nay. Mọi việc trong nhà, Bố và Mẹ đều chuẩn bị chu đáo. Sáng mai, Hạnh lên máy bay đi hè Italy, Võ Hiễn đi Normandie, Hồng đi Grèce và Bố Mẹ sẽ ra biễn.
Việc đặt « stens » vào động mạch là chuyện thường vì Bố đã trải qua. Nhưng lần nầy, Bố vào phòng mổ, bác sĩ đã soi tim lại thấy 2 cái « stens » vừa thay cách đây 3 tháng hoạt động không điều hòa, nên phải ngưng và trình cho hội đồng y khoa để lấy ý kiến. Giờ chót : Hội đồng y khoa sau khi trắc nghiệm, liền đề nghị với các bác sĩ chuyên môn về khoa mổ và lần nầy mổ « aorte » và đặt « pont » chứ không bỏ « stens » như lần trước. Thì ra, trong đời sống của con người có nhiều « chuyện thật mà té ra là chuyện không thật ! »
Gần cả thế kỷ, Bố đã sống và đã thấy những cái như "không thật" mà là "có thật" không chối cải. Nhiều lúc đi nhà thờ, trong thánh lễ Bố đã mục kích đứa bé phủ phục trước bàn thờ khi ông linh mục cầm chiếc bánh đưa cao và nói: "đây là mình Thánh Chúa". Bố đoán chừng cháu bé, lúc đó đã nghĩ chiếc bành trong tay vị linh mục là thịt là xương của chúa Jésus. Vấn đề đặt ra là vì sao đứa bé nghĩ được như vậy ? Có ai dám nói đứa bé nghĩ sai, mê tín ? Nếu không ai dám nói, tức là cả thế giới thiên chúa giáo hơn 2000 năm nay đều tin tưởng như cháu bé hay sao ?
Bố lấy thêm một tỷ dụ cụ thể hơn là trong lối đánh roulette trên mạng hay trong các sòng bài casino chẳng hạn, tiền người chơi bài có trên màn ảnh hay trên bàn cờ là tiền "ảo", loại tiền « không thật » do sự điều hoạt của máy tính. Người chơi bài tha hồ cá cược và nếu thắng, thì khi rời sòng bài người chủ cái bắt buộc trao cho họ tiền "thật". Như vậy giữa tiền "ảo" và tiền "thật" có sự liên đới vô hình chặt chẻ mà mình, nếu không phải là người chơi bài, thì không tài nào biết được. Một sự kiện của óc tưởng tượng bày ra đã có khắp nơi, và có lẽ từ lâu lắm !.
Cách đây vài ngày, cả thế giớí đều nghe trên các đài TV và báo chí nói về bà sœur Bernadette Moriau 79 tuổi nói về phép lạ thứ 70 của Đức Maria Lộ-Đức dành cho bà ta sau 40 năm không đủ sức đi xa, vì bị bệnh cột xương sống. Theo tờ La Croix, thì sœur Bernadette Moriau tham dự cuộc hành hương Lourdes vừa trở về, khi vào phòng mình thì nghe tiếng nói : « hãy bỏ hết nai nịt và đi đứng như thường lệ ». Toàn thân bà nóng rực và bà bắt đầu đi gần 5 km trước mặt mọi người. Vị giám mục địa phận yêu cầu Hội đồng y khoa thế giới xác định, và sau 2 năm truy cứu, Hội đồng đã trả lời : « Chỉ là một phép lạ Lourdes » . Vậy ai dám bảo đó là chuyện không thật, chuyện ảo, chuyện mê tín, chuyện dị đoan? Bà Bernadette Moriau là con người sống bằng da bằng thịt, trong khi Đức Maria là người sống siêu nhiên. Hai cỏi sống và cỏi chết của 2 nhân vật hoàn toàn khác nhau.
Nói cho cùng, đối với con người Sống và Chết có sự liên đới mật thiết, nhưng vì hôm nay thời gian còn quá sớm, con người chưa biết nên rất khó chấp nhận được.
Gần đây, những tin tức về hiện tượng người robot có thể làm theo mệnh lệnh con người, và một vị kỷ sư bên Nhật đã biến chế ra một người robot làm tình nhân. Sau giờ nghĩ, 2 cô cậu cũng lên xe, cũng khoác vai đi dạo phố, cũng cười đùa óng ã…Giữa anh ta và cô nhân tình robot cũng có cử chỉ thổ lộ tình yêu như vợ chồng thật. Bố giả thiết rằng nếu trong bộ óc người đàn bà robot kia có đủ oxy để sống và suy nghĩ thì thế giới thật và thế giới ảo đều chẳng khác gì nhau. Đến thời đại đó, loài người trở thành bất tử và điều trong kinh Thánh xưa nay cho biết "linh hồn bất tử" sẽ không còn là thắc mắc hồ nghi.
Từ những suy tư nầy Bố muốn đề cập đến sự Sống và sự Chết, đến cái gì trong con người không hủy hoại với thời gian và cái gì con người khi rời cỏi sống không bao giờ chết.
Sống và Chết có gì liên hệ nhau ?.
Câu hỏi "sống và chết có khác nhau không? Đáng ra câu tra vấn nầy nên dành cho các nhà tôn giáo, các bậc tiên tri. Nhưng theo Bố, thì Sống và Chết chẳng khác gì nhau. Đây chỉ là cách gọi của 2 thế giới: Thế giới loài người và thế giới thần khí. Sống là động và Chết cũng là động. Sống là động, là suy nghĩ, là tác hành (faire-travailler) nhờ sự nuôi dưởng của khí oxy. Chết là động, là suy nghĩ, là tác hành (faire-travailler) nhờ khí trong thần còn gọi là thần khí (force spirituelle). Do đó, nếu sống từng được xem là cuộc chơi, thì chết cũng nên xem đó là cuộc chơi. Lúc sống đã có nhiều tiếng cười thích thú thì sau khi chết hẵn phải có nhiều điều vui.
Xưa nay, chưa ai nói trước được tương lai sự Sống và sự Chết của chính mình. Khi con người đang sống, con người chỉ có ước mơ, chứ con người không cầm chắc tương lai của họ. Cũng vậy, trước khi mình chết, mình đâu biết tương lai cái chết của mình sẽ lên thiên đàng hay vào địa ngục hay quanh quẩn lây lất đó đây.
Hôm nay, ước mơ còn lại của Bố là cố gắng dành một dấu vết khi Bố đang sống, để trong tương lai cái sống đó sẽ tranh lại với cái chết cho các con cùng đồng loại. Tóm tắt, tham vọng của Bố là muốn để lại những dấu bút cho nhiều thế hệ tương lai. Con người sống là con người biết dự phóng cho cái chết. Nói khác, đó là quan hệ giữa Sống và Chết.
Câu chuyện nghĩa trang.
Gia đình ta đặt chân trên đất Bỉ ngày 5/5/75 và Bố có công ăn việc làm tạm thời ngày 15/5/75. Cho đến hôm nay, Bố vẫn không hiểu động cơ nào đã thúc dục, kể từ tháng 7/75, sau khi có việc làm thích hợp chắc chắn, thì Bố lại nuôi ý định tìm ngay một khoảnh đất làm nghĩa trang cho người Việt. Ngoài thời gian dạy học, Bố lặn lội tiếp xúc với rất nhiều nhân vật Bỉ trong các tổ chức xã hội và đã trình bày ước nguyện đó. Phần đông họ mỉm cười (dù không chút ác ý), vì nghĩ rằng họ đang gặp một văn hoá mới: “văn hóa người sống không lo chuyện sống mà lại đi lo chuyện chết”.
Theo Bố, thì chuyện nầy cũng dễ hiểu, vì người Tây phương chú trọng văn minh kỷ thuật, còn người Đông phương lại chú trọng về nội tâm. Trong khi người Tây phương dùng trí óc nghĩ về phát triễn dồng loại, thì người Đông phương dùng trí óc nghĩ về bản thể. Trong khi người Tây phương thích phát triễn khoa học, thì người Á châu lại thích nẩy nở tinh thần. Trong khi người phương Tây thích tẩm bổ, ăn uống và luyện tập sao cho bắp thịt nở nang, thì người phương Đông lại ăn uống thiếu dinh dưởng, dành dụm tiền bạc chắt chiu cho con cháu và thích ngồi thiền cho trí óc của mình mạnh mẻ.
Tóm tắt, người phương Tây thích nhìn cái thực tiễn hơn người phương Đông, họ xác quyết "một bộ óc minh mẫn chỉ có trong một thân hình tráng kiện, chứ không thể có trong những con người thân xác èo ọp như người Á châu". Người phương Tây chú trọng về tập thể, còn người phương Đông chú trọng về cá nhân.
Dù cho Bố nghĩ vậy, nhưng không bao giờ dám quên việc đi tìm một khoảnh đất làm nghĩa trang chung cho người Việt. Do đó, Bố cứ tìm cách tiếp xúc với người bản xứ ở mọi nơi và mọi lúc để thuyết dụ cho vần đề nầy.
May thay, trong những nhóm tiếp xúc có bà Bá tước De Lanshere hiểu ý Bố, và đã giới thiệu với ông E.Plissart,Tổng Gíám đốc bộ Tài Chánh đương thời, hầu tìm cách giúp đở Bố thực hiện ý tưởng "lạc lõng" đó.
Như các con đã biết bà Bá tưóc De Lanshere có chồng nguyên là cố vấn đặc biệt cho vua Léopol II, nên hôm nay bà quen biết rất nhiều nhân vật trong giới chính quyền Bỉ. Năm 1943 cả hai ông bà De Lanshere đã một lần tháp tùng vua Léopol II đi Việt nam thăm vua Bảo đại tại Huế. Bà rất mộ đạo nên ngay trong tư thất của bà có một phòng cầu nguyện khá lớn và hằng tuần có vị linh mục giáo sư trường trung học Saint Michel đến đây làm thánh lễ cho vài chục người tham dự. Sau những buổi thánh lễ, bà còn cho tổ chức những bữa ăn chung và khuyên mọi người ở lại trò chuyện giúp đở lẫn nhau. Có lẽ nhờ vậy mà mấy cặp vợ chồng có vấn đề đã hòa giải và đã tìm lại sức sống gia đình.
Còn 2 ông Bà Plissart cũng là gia đình đông con và cũng rất mộ đạo. Ông E.Plissart nguyên là con của một vị Quận trưởng Ettecbeck sau thời đệ nhứt thế chiến. Dòng họ Plissart là một dòng họ có tiếng tăm lớn cả đạo lẫn đời tại xứ Bỉ. Có lẽ ông E.Plissart nhờ đó mà hưởng thụ rất nhiều đất đai và nhà cửa tại xứ nầy. Sau khi Đồng minh thắng Đức, ông Plissart rời quân ngũ và trở lại đại học, và đã đậu tiến sĩ. Năm 1975, khi gia đình mình đến đây xin tỵ nạn cộng sản, thì ông đã là Tổng Giám đốc bộ Tài chánh. Ông vừa qua đời cuối năm 2017 và đã hưởng thọ 104 tuổi.
Sau khi trình bày ý nguyện của Bố, ông E.Plissart liền đề nghị cho không một khoảnh đất trên dưới ba mẫu tây (hectare). Ông chỉ lấy tiền bán tượng trưng là 1 franc belge.. Ông giới thiệu Bố tiếp xúc với nha điền địa của chính quyền vùng wallon. Nhờ vậy, Bố mới biết mãnh đất đó toạ lạc gần sân bay Zawentem. Lúc đó mãnh đất đang bỏ hoang và thấy toàn là loại “cỏ cú rất cứng chằng chịt dày đặc", nên khó thích hợp với những loại thực vật khác (Bố đoán vậy). Nha điền địa của chính quyền vùng wallon cho Bố biết mãnh đất nầy nằm gần sát cạnh sân bay, và chính phủ muốn mở rộng đường bay, nên không cho phép xây cất gì thêm. Câu chuyện đến đó, và Bố tự cảm thấy cũng rất khó thành tựu, vì giả dụ chính quyền có cho phép thì làm gì mình có đủ tiền mà xây tường bao quanh nghĩa địa. Nếu tổ chức quyên góp thì không tránh khỏi miệng tiếng rằng chủ trương làm nghĩa trang để lấy tiền nhét túi, nên Bố đành bỏ qua ý định làm nghĩa trang riêng biệt và tìm cách xin cho người Việt được chôn cất chung trong cùng một nghĩa trang với người bản xứ..
Mãi về sau nầy, khoảng năm 2000, đang lúc Bố cùng dạy học với ông bạn D. Van De Kerkove, và ông nầy trở thành quận trưởng quận Ittre. Bố đưa ý kiến để nhờ ông giúp riêng cho người Việt được chôn cất trong cùng một khoảnh đất nằm ngay trong nghĩa trang của quận. Ông D. Van de Kerkove vui lòng chấp nhận ngay và đã ký một văn thư đặc biệt dành cho mọi người Việt, sau khi qua đời được chôn cất trong cùng nghĩa địa của quận với giá đặc biệt. (Chuyện nầy hẵn các con và bà con người Việt tại Bỉ đã biết). Nhờ vậy, cho đến hôm nay, tại nghĩa trang Virginal thuộc quận Ittre đã có dấu tích một số mồ mả bà con người Việt nam, trong đó phải kể đến mộ phần Ông bà Ngoại. Bố cũng đã nghĩ rằng nghĩa trang Virginal sẽ là nơi gửi gắm những thân xác của gia đình chúng ta sau khi mãn phần.
Tự vẻ ngôi nhà vĩnh viễn.
Như các con đã biết, trong suốt thời gian nghĩ hưu, Bố thường lui tới các trung tâm giải trí dành cho người già. Ý Bố là muốn tìm cách giới thiệu dần dà những người Việt lớn tuổi đến đây tiêu khiễn, cho quên bớt buồn phiền vì cuộc sống lạc lỏng xa xứ. Nhưng muốn đến đây hầu tìm cách hoà nhập với người bản xứ, thì ít nhất Bố phải biết chỉ vẽ cho người già phương cách gì để họ có thể hòa nhập được. Bố liền xin ghi tên vào một nhóm gọi là Club. Bố xin gia nhập club chơi bài Bridge, Whist, Belote, Rami. vì Bố nghĩ rằng người Việt mình thích chơi bài các-tê, xì dách, tứ sắc hay bài cào, hơn là thích chơi tem, hội họa hay nghe triết lý,
Trước hết, Bố phải trải qua một thời gian học chơi bài để nhập club vào các ngày thứ hai, thứ tư và thứ sáu. Nhưng những lối chơi bài nầy cũng không phải là dễ, vì ngoài vấn đề cao thấp còn phải biết phỏng đoán những con bài trên tay người thuộc cùng phe với mình, hầu tìm một thế trận để thanh toán đối phương. Khi nhìn vào cung cách của người chơi bài, ban đầu Bố cũng chẳng ham, nhất là nhóm người chơi Bridge. Nhóm nầy không những phải tuyệt đối yên lặng như chơi Whist mà phần đông người chơi Bridge còn kiêu kỳ trưởng giả. Ăn bận phải chỉnh tề, đàn ông thì cà-vạt, đàn bà thì tóc tai mượt mà, ăn bận quần áo loại đắt tiền. Lúc vào chơi, thì mỗi người có một chiếc ghế màu mè riêng rẽ đặt trước chiếc bàn trài có trải khăn vuông vức. Nhìn qua lối chơi Belote bình dân hơn, thì ồn ào và thích nhậu nhoẹt trong lúc đang chơi. Còn lối chơi Rami thì phần đông dành cho phụ nữ. Rút cuộc Bố đành theo nhóm Whist.
Tại mỗi trung tâm giải trí chính quyền quận chu cấp vài ba nhân viên thường trực trông coi.và phục dịch cà phê bánh ngọt miễn phí cho mọi người. Mục đích chính quyền các quận trong toàn xứ Bỉ, là giúp cho người hưu trí vui hưởng tuổi gìa. Chính quyền cũng mong người già giữ được lâu trí óc minh mẫn, nên khuyến khích cho nhiều người lớn tuổi đến đây chơi bài, nhưng cấm không chơi tiền ăn thua lớn như người Việt hay người Tàu bên xứ ta. Mỗi lần chơi bài ăn thua không quá 1 đồng euros. Nhưng đây cũng là vấn đề rất « khó » cho Bố chiêu dụ được người Việt đến chơi, vì « 1 hay 2 euros » đối với người Việt thì chảng ra gì, để họ phải bỏ công đi đánh !.,
Trong thời gian nghỉ chơi (mi-temps), mọi người tụ họp ưống trà, cà phê và ăn bánh trái, Bố thường nói chuyện với vài người về quan niệm người Việt sau khi mãn phần, là ước mong sao có chung cùng nghĩa địa. Họ (người Việt) thường nói là sợ chôn chung với người không cùng ngôn ngữ sẽ không có bạn bè chuyện trò với nhau dưới âm phủ.
Bố cứ nghĩ là nói chơi cho vui, nhưng dụng ý của Bố cũng muốn cho người bản xư`biết chút ít về văn hoá Việt nam « sống hôm nay mà luôn luôn nghĩ về đời sau ». Ai ngờ gần đây, một số người trong quận đã vận động chính quyền tặng hiến cho Bố một phần đất trong nghĩa trang quận để làm mộ. Theo Bố, đây là một dịp hiếm có, nên Bố hẹn với Mẹ, Hạnh, và vợ chồng Cậu Quang-Bích đi viếng nghĩa trang, để chọn lựa khu đất dự định làm ngôi nhà vĩnh viễn. (hình chụp) .


vị trí mộ phần
Thật ra, đã lâu trong thâm tâm Bố cũng có dự định tìm một mảnh đất làm ngôi nhà vĩnh viễn theo ý riêng của Bố. Vì Bố quan niệm rằng “chết chưa phải là hết”, nên hoài vọng của Bố là tìm cách lưu lại cho con cháu một dấu vết, nhất là dấu vết về tinh thần.và văn hoá của cha ông.
Quan và Quách. (Le cerceuil et le mur)
Bố còn nhớ chuyên chôn cất trong gia đình, khi ông ngoại Bố nguyên tri huyện Nghĩa Hành (Quảng ngãi) dời cốt ông bà Cố về làng. Bố hỏi vì sao cần phải có 2 cái hòm một to và một nhỏ dành cho một người. Ông ngoại Bố liền giải thích, hòm nhỏ là để cốt (xương) trước khi đặt vào trong cái hòm lớn hơn. Cái hòm phía trong gọi là « quan ». Cái hòm lớn bên ngoài gọi là « quách » và bây giờ có nơi gọi là « vách ». Khoảng trống giữa hai hòm và quách, người ta thường bỏ đầy cát, trấu thóc hay lá chè khô, cốt ý không cho nước trong xác chết rỉ rỏ ra ngoài nếu quan tài người qúa cố được lưu giữ trong nhà hàng tuần hay hàng tháng. Bố thấy ông ngoại Bố bỏ vào giữa khoảng trống của quan và quách đầy lá chè phơi khô, loại lá chè mà người Việt thường dùng để uống hằng ngày.
Hôm nay, nơi nghĩa trang của quận dành cho Bố làm mộ phần gọi là caveau Tại đây, có luật lệ khá đặc biệt mà xem ra cũng chẳng khác gì với tục lệ « trong quan ngoài quách » của Việt nam thời xưa. Có điều khác nhau dễ nhận ra là tại đây, « quách bằng xi măng trộn nhuyễn » (ciment coulé) , và phía trong hòm gỗ (cercueil) là một « lớp thiếc mỏng (zinc) bọc xác.người quá cố. Gia đình và chính quyền buộc theo những thủ tục cam kết có chữ ký của Bố trước mặt vị đại diện quận. Văn bản ký kết được tồn trữ trong sổ khai tử của quận Uccle.


Nói về chiếc « Quách » bằng « ciment coulé », được đúc thành hai tầng gọi là học (case), học trên dành cho Bố và học dưới dành cho Mẹ của các con. Khi chôn, có vị dại diện quận chứng kiến, những người lo việc tống táng chỉ cần đẩy quan tài vào trong một học (case) đã ghi tên trước và sau đó trét kín bằng ciment. Không có chuyện kẻ chết trưóc thì chôn phía dưới và kẻ chết sau thì chôn chồng lên trên như các caveau ở những nơi khác.
Có một điểm khá trùng hợp trong thời Hy lạp đến nay về cách ướp xác. Người Ai cập ướp xác bằng cách lấy hết bộ phận trong bụng người chết, đem vắt lên trên những cái nạng gỗ hình chữ thập, phơi khô trước khi bọc vãi đem chôn. Sau nầy người thiên chúa giáo giàu có cũng dùng hai hòm, một to một nhỏ, đặt trong một caveau bằng ciment kiên cố. Bố không có thì giờ để truy cứu việc chôn cất "trong quan ngoài quách" của người Việt xưa.
Cảm nghĩ của Bố về sự thiêu xác.
Bố không tiêu hoá được cảnh thiêu đốt xác người quá vãng, nhất là con cái trong gia đình đối với bậc sinh thành. Bố nghĩ rằng những bậc cha mẹ sau khi chết bị con cháu đưa ra lò thiêu là một điều mạt phước. Trái lại, hành động con cái đốt thiêu cha mẹ dù đã chết, là một tội rất bất hiếu, rất bất nhân.
Chết đâu phải là hết mà là còn sống ở một thế giới khác, vì thế nên người theo phật giáo thường có câu « cầu cho linh hồn được sớm về Niết Bàn » hay người theo thiên chúa giáo thì cầu cho « linh hồn sớm về cỏi Vĩnh Hằng ». Ngay cả bọn vô thần, như người cọng sản cũng chôn cất người quá cố, xây mồ xây mả đàng hoàng, xem ra còn hữu thần hơn người hữu thần.
Bố từng thấy nhiều trường hợp người quá cố có con cháu tràn đầy,.kỷ sư có, luật sư có và bác sỉ cũng có, nhưng khi chết cũng bị con cháu đem ra lò thiêu. Bố không hiểu được việc người ta viện cớ rằng thiêu xác là hình thức giải thoát linh hồn mau nhứt hay người ta sợ tốn tiền và sẽ mất thì giờ đi viếng mộ ? Có người nghĩ rằng chôn cất là cách tù hãm linh hồn, vì trước sau gì thể xác người chết cũng trở thành tro bụi. Dù cho ai mượn nhiều lý lẽ để biện bạch, Bố vẫn có ý không vui cho thân phận những con người quá cố từng là cha mẹ có nhiều con cái. Bố nghĩ đến việc họ sinh con cái đầy đàn, họ thức khuya dậy sớm tảo tần lo con ăn học làm ông này ông nọ, tiền bạc dư thừa, rồi bị con cháu đưa đi thiêu !
Vậy thì đi theo đạo nầy đạo nọ làm chi ? Cúng lạy, cầu siêu cầu linh hồn làm chi ? Phải chăng những cuộc cầu siêu tại chùa và những buổi lễ cầu linh hồn tại nhà thờ đều là những chuyện rườm rà bày đặt bởi các nhà tu để thu hoạch tiền tài của bá tánh hay sao ?
Bấy lâu nay trong gia đình mình, dù cho Bố nghĩ và băn khoăn vậy, nhưng Bố không dám nói ra cho các con hay biết. Bố cũng chẳng dám nói cho người ngoài nghe. Bởi lẽ, nếu Bố nói cho người ngoài biết thì họ sẽ trách Bố ích kỷ, không biết giữ sạch môi trường Trái lại, nếu nói cho người thân thuộc trong gia đình biết thì chỉ là gíán tiếp tạo thêm cảnh lo âu và buồn bực trong cuộc sống. Đó là chưa nghĩ đến chuyện tiền bạc….
Điều may mắn cho Bố là sau khi mỗ tim 2 lần, Bố suy nghĩ rằng nếu cứ để "hạ hồi phân giải", thì Bố tin chắc rằng Mẹ và các con không ai quán xuyến nỗi việc chôn cất như ý Bố. Cùng lắm là Mẹ và các con chỉ làm theo người đời, biết bỏ tiền mua một phần đất trong một nghĩa trang, thuê một nhà quàng tiếng tăm, mua một chiếc hòm đắt giá, dặt nhiều vòng hoa, họp mặt cầu nguyện đọc kinh, nói vài lời từ giả trước quan tài và… mời ông linh mục đến rãi dầu Thánh....rồi đem đi chôn cho mồ yên mả đẹp!. Chuyện quá dễ dàng vậy hay sao !
Nghĩ thế, nên trong buổi ăn vừa qua Bố mạnh dạn lấy cớ nói cho các con biết việc sống chết ở VN thì coi thường, nhưng chuyện chôn cất thì rất quan trọng. Bố đã cho các con biết tại VN người ta lo sẵn cho cha mẹ những ổ quan tài đặt sẳn trong nhà. Có nhiều ông bà vui vẻ vào nằm trước trong hòm xem thử có vừa vặn thước tấc hay không. Bố không ngờ Mẹ và các con hiểu ý, lấy làm hoan hỹ và cả gia đình đồng tình dành chuyện chôn cất theo ý Bố.
Bố xin ghi lại đây xem như là dấu vết sau cùng của Bố. trước ngày Bố ra đi. Ngày tạm thời chia tay, Bố khuyên Mẹ và các con cứ xem như là ngày vui tiếp nối trong cuộc hội ngộ của gia đình chúng ta. Ngày đó, cùng với nhân loại, con người sẽ bất tử, Mẹ và các con sẽ sống đời đời bên cạnh Bố.
. (Vì bài quá dài, các con hãy đón đọc bài 2).
Bố các con.
LÊ HÙNG, Bruxelles.
-----------