Tác giả: Đầu Mâu Đăng ngày: 2018-04-01
LGT : Tác giả của hình vẽ trên có bút hiệu là Đầu Mâu. Vậy Đầu Mâu là gì ? Xin đọc bài viết dưới đây để biết thêm về sông núi của nước Việt.
NÚI ĐẦU MÂU TRONG KÝ ỨC TÔI
Author: Nguyễn Hữu Huỳnh Source: Làng Trần Xá Posted on: 2018-04-01
Nhiều khi truy cập mạng để biết thêm về lịch sử tỉnh nhà Quảng Bình, tôi thật ấn tượng bài viết về núi Đầu Mâu quê tôi huyện Quảng Ninh qua câu "Đầu Mâu vi bút, Hạc Hải vi nghiên".
Trong tôi mang nặng môt kỷ niệm đẹp về ngọn núi quê hương: Núi Đầu Mâu từ khi còn thanh niên và mang theo đến bây giờ sau mấy mươi năm. Tôi xin kể lại như bổ sung thêm một tư liệu thời chống Mỹ cho tỉnh nhà vì chưa tìm thấy tài liệu nào nói đến những dấu tích một thời chiến tranh mà tôi được tận mắt mục kỉnh này.
Khoảng năm 1989 đứa bạn tôi ở Văn La tên Lê Trọng Hùy thường hay lên chơi cùng tôi. Một hôm Hùy nói.
- Anh Huỳnh ơi! Tui muốn rủ anh đi với tui một chuyến.Tui biết anh hay tìm tòi khám phá những gì về xa xưa nên chắc tui kể ra chuyện này anh thế nào cũng đi với tui.
Tôi trách yêu nó:
- Thằng quỷ, chuyện chi cứ nói ra nghe lọt tai thì anh đi với em Thùy chậm rãi kể.
- Năm ngoái (1988) em theo mấy người lên đỉnh ngọn núi Đầu Mâu. Trên đó có một chiếc máy bay Mỹ rơi từ hồi chiến tranh, mỗi nơi mỗi mảnh. Tụi em đi tìm vành 28 lỗ vì nghe nói mấy lỗ đó bọc vàng tây và các phích cắm vàng tây. Nhưng tụi em lên đến nơi thì trời chiều rồi nên tìm được một chút lo về vì đường xa sợ trời tối về không kịp. Đợt dó, bọn em chỉ lấy được mấy miếng nhôm đuy-ra về gò khay trà bậy bạ thôi. Anh đi với tui một chuyến chơi cho biết núi Đầu Mâu không?
Tôi nói:
- Nếu có thì đâu đến lượt chú mi mà tìm cho hoài công. Nhưng anh cũng thích lên đỉnh đó một chuyến cho biết thế nào là ngọn núi cao nhất của quê hương cho thỏa chí vì Lèn Bạc núi Thần Đinh hay Lũy Thầy ngoài phía rào Lệ Kỳ anh đến thăm cả rồi. Chú về chuẩn bị rìu, rạ soong nồi còn ba lô gạo thức ăn mọi thứ anh chuẩn bị sáng mai sớm anh xuống, anh em mình xuất phát nhé. Máy bay máy bò gì là chuyện của chú còn anh chỉ mong được lên đỉnh núi Đầu Mâu ngắm nhìn chinh phục đỉnh cao cho thỏa chí mà thôi.
Hùy dạ rồi ra về.
Sáng hôm sau 7 giờ tôi có mặt ở Văn La. Hùy và tôi gói gém hành trang rồi đi bộ hướng về núi Đầu Mâu. Dọc đường đủ chuyện trên trời dưới đất đi hết làng Vĩnh Tuy đến bìa rừng Hùy nói:
- Chút nữa đến suối nấu cơm ăn trưa rồi theo đường trâu lĩa * lên lưng chừng núi hết đường trâu lĩa nhằm đỉnh mà leo lên. Anh chuẩn bị nước mang theo chứ từ đây lên đỉnh không có nước đâu. Còn lên đến đỉnh thì có hồ nước bộ đội xây dựng cho sinh hoạt lúc đóng quân vẫn còn dùng được. Chiều mình nấu cơm tối và sáng mai em dắt anh đi xem em tìm xác máy bay .
Lần đầu đi lên rừng sâu nên tôi tự nguyện làm lính nấu cơm thức ăn và pha trà rồi gọi Hùy đến ăn.
Ăn uống, thuốc men trà lá xong Hùy nói :
- Đi anh, đường còn xa lắm anh.
Tôi chuẩn bị hai bi đông nước trà mang theo. Đúng như Hùy nói nó dắt tôi đi theo vệt đường trâu lĩa đến hơn 2h chiều mới hết dấu đường mòn. Tôi nhìn quanh rừng thật trùng điệp với những cây gỗ to xanh vươn thẳng lên trời. Rừng bạt ngàn cây quý của rừng nguyên sinh. Thấy tôi cứ xuýt xoa Hùy làm như sành điệu vùng này rồi. Nó nói:
- Chút nữa tui chỉ cho anh xem mấy cây gõ và cây chua, to lắm vì xa và khó nên mấy cha sơn tràng không làm chi được.
Tôi mang ba lô theo Hùy leo lên một dốc cao tôi thấm mệt nên nói Huy dừng nghỉ chút. Leo tiếp lại nghỉ uống nước, bi đông dần cạn và khô.
Thấy tôi có vẻ mệt, Hùy cười chỉ tay vào một cây và hỏi:
- Anh biết cây ni cây chi không?
- Anh chịu.
Hắn ta có vẻ sành điệu giản giải:
- Đây là cây lim xanh, không biết chi về gỗ vô rú cứ cây chi lá nhỏ vỏ mỏng là gỗ quý đó anh.
Tôi thầm phục hắn tuy trẻ mà thiệt rành về rừng rú. Hắn quen đi rú nên tôi thấy hắn bình thường, còn tôi thì ngồi thở dốc.
Tôi hỏi hắn:
- Từ đây lên đỉnh khoảng mấy giờ thì đến nơi?
Hắn nói :
- Đi chậm như anh chắc 4 giờ chiều mới đến.
Giải lao xong chúng tôi cứ nhằm đỉnh thẳng tiến. Đúng như Hùy nói khoảng 4h chiều chúng tôi lên đỉnh ngọn Đầu Mầu. Thả ba lô xuống, tui sung sướng phóng tầm mắt ra xa thấy cả biển xanh và những con tàu nhỏ, làng quê uốn lượn ven biển ven sông thật hữu tình.
Tôi thốt lên:
- Ôi đẹp quá Hùy ơi!
Hắn làm như ta đây và nói:
- Thấy chưa, tui sợ anh không tin những gì tui kể nay anh thấy đúng không sai phải không.
Tôi khâm phục hắn trẻ mà từng đến đây rồi. Hắn cười ung dung tự đắc rồi bảo tôi tiếp tục đi thêm đoạn nửa đến điểm tập kết. Tôi làm theo hắn như một robot lè kè mang ba lô đi theo. Đến một điểm cao hắn nói đây mới thực sự là đỉnh Đâu Mâu này anh. Tôi nhìn thấy một cái như lô cốt hỏi Hùy:
- Đấy là gì như là đồn bốt vậy?
Hắn nói:
- Chắc là đài quan sát của bộ đội hay của đơn vị pháo binh để kiểm soát biển hay sao đấy.
Tôi đi vào xem thấy như là Lô cốt có 2 cửa vào và trần bê tông đúc rất dày phía trong lát gỗ tấm nào cũng to. Mỗi tấm khoảng 2cmx 50 cm x 300cm nằm ngổn ngang, phần đuôi bị mục. Trên trần cửa hướng đông tôi thấy khắc dảy số 1966, xung quanh vỏ đồ hộp mục pin con thỏ to như lon sữa và bình ắc-quy vứt khá nhiều.
Hùy nói:
- Anh chuyển đồ ra đây chuẩn bị đóng lán kẻo trời tối. Kinh nghiệm trong rừng ve kêu là trời mau tối lắm đấy anh.
Tôi đi theo Hùy cách lô cốt đoạn ngắn có 1 cái bể nước như Hùy kể và nó dừng lại bảo đóng lán tại đây lấy nước bể để nấu cơm và nước uống.
Tôi rùng mình vì bể nước rêu tảo xanh lè vài con nhái bơi bên trong còn thành bể phía triền đồi bùn đất vấy bẩn.
Thấy nét mặt đăm chiêu của tôi, Hùy cười nói:
- Đây là nguồn nước tuyệt nhất đó, không có nơi nào để lựa chọn đâu anh.
Hai anh em tôi chặt cây làm lán, căng nylon làm trần, bẻ lá lót để nằm tạm nghỉ qua đêm và không quên chặt ít củi đêm đốt khỏi muỗi và rắn rết bò vào.Tôi chặt quanh một mớ củi để nấu cơm và đốt trong đêm theo lời hướng dẩn của Hùy. Riêng Hùy như từng quen với rừng núi, nó làm những việc lần đầu tiên tôi mới thấy. Nó lấy màn nằm gấp nhiều lớp rồi múc nước đổ lên lọc xuống soong. Nhìn một lớp rêu tảo xanh rì trên màn tôi phục nó sát đất.
Như Hùy nói, trong rừng thật mau tối, cơm nước xong thì trời cũng tối đen. Đêm trong rừng nghe tiếng mang đoác tiếng chim ăn đêm tôi cũng sợ. Nói chuyện một hồi hắn ta ngủ ngon lành. Còn tôi khó ngủ vì có chút sợ và nằm trên lá lâu lâu trở mình nhằm viên sỏi đau nên không ngủ được. Nào ngờ nổi lo sợ của tôi cũng biến thành sự thật. Khoảng hơn 12 giờ đêm nghe tiếng sột soạt từ các lùm cây vọng vào khi thì phía bên hông khi thì phía dưới triền đồi lên mỗi lâu mỗi to có khí cả hai phía. Tôi ép người sát thành bể bấm Hùy dậy và chỉ tay về hướng có tiếng thú đến. Hùy bảo tôi anh đưa soong đây cho tui. Hắn ta một tay cầm soong 1 tay cầm nắp đánh vào nhau miệng la to. Phía ngoài lán tiếng thú phang chạy xuống đồi. Nó cười bảo tôi: - Mình quên đi ở đây không có suối mấy ông đi săn mồi đêm về ghé đây uống nước. Nay mình chiếm chổ nên mấy ông khát cứ loanh quanh tìm cách uống đó thôi.
Tôi chợt nhớ thành bể phía triền đồi nhiều bùn đất khi bắt gặp. Hùy bảo ngủ tiếp đi anh. Tôi ừ cho có lệ thực sự không sao ngủ được cứ nằm thấp thỏm.
Một lúc lâu sau lại loạc xoạc phía hông lán Hùy nằm vậy mà nó chưa ngủ và nhận ra như tôi. Hắn lấy soong gõ và la như lúc nãy. Nhưng lần này không nghe tiếng chạy loạc xoạc phía các bụi rậm xuống triền đồi như trước. Huy giục tôi thêm củi vào. Tôi nhặt những khúc củi còn sót lại cho vào bếp lửa. Hùy nhặt hai khúc củi to đỏ lửa ném mạnh về phía hai tiếng động phát ra khi hồi. Tôi nghe tiếng loạc xoạc lao về phía bụi rậm dưới chân đồi.
Hùy nói:
- Ông này lỳ thiệt, la to và soong gõ không chịu đi đến dùng lửa mới chịu đi.
Tôi nói:
- Hết củi rồi Hùy ơi, cháy hết đó là hết củi.
Hùy bảo:
- Anh gỡ nylon ra tui lấy mấy cây làm lán đun thôi.
Tôi làm theo Hùy và cùng tháo những cây làm lán to hơn ngón chân cái xuống chặt làm 3 cho vào bếp. Khoảng hơn 2h sang lửa sắp tàn thì tiếng loạc xoạc tiếng bước chân gần bên hông lán lại tìm đến. Tôi hỏi và nó trả lời rất nhanh:
- Làm sao đây Hùy.
- Còn cách cuối cùng.
- Cách chi?.
- Lần này anh với tui cùng la to, anh đánh soong còn tui ném lửa rồi tui ra trước lán chặt đại vài cây vô tiếp tục đốt. Nếu tắt lửa là tui với anh không xong đêm này đâu.
Tôi nghe lạnh xương sống và hai đứa bắt đầu làm theo cách Hùy vừa vạch ra. Khi tiếng la và tiếng soong đánh inh ỏi và lửa ném về phía lùm cây, tiếng loạc xoạc phang về phía triền dốc mất hút, Hùy cầm rựa ra trước lán chặt vội những cây nhỏ tôi ôm vào cả lá vừa đốt. Lâu lâu lại lấy bớt ít cành còn lửa ném về những bụi rậm như ngăn chặn đường lên cho Hùy chặt và tôi ôm vào tập kết. Trong lòng tôi chắc cũng như Hùy mong sao trời mau sáng. Một cảm giác sao đêm nay dài lê thê đến thế.
Bếp lửa tiếp tục cháy, lửa thì ít mà khói um vì cây tươi và đốt cả lá nên khói mịt mù. Lấy nắp soong thay nhau quạt và lắng tai nghe xem có tiếng bước chân tiếng động từ bụi rậm có tìm về hay không. Yên tĩnh kéo dài bao nhiêu tôi mừng thầm bấy nhiêu và mong sao tiếng bước chân đừng tìm về nữa.
Tôi quá mừng vì xa xa vọng lại tiếng gà rừng gáy sáng.
Hùy bảo tôi:
- Bình yên trở lại rồi.
Tôi hỏi:
- Sao Hùy biết được
Hùy nói:
- Anh chắc nghe tiếng gà rừng gáy rồi chứ gì
- Ừ thì gà gáy.
Hùy ôn tồn:
- Giờ này là mấy ông nhịn khát đi ngủ rồi.
Tôi trách nó sao không lường trước chuyện này. Hắn ta cười:
- Ừ tui không nghỉ đến chuyện ny.
Trời mờ sáng hai đứa dậy chuẩn bị nấu ăn uống cho chuyến hành trình tìm kiếm xác máy bay mà nó không cam lòng nhất quyết phải tìm cho bằng được.
Trời sáng rõ tôi đi về phía các lùm cây đêm qua và gọi Hùy ra xem các dấu chân và vuốt còn in lại khi mấy ông phang chạy xuống đồi còn vết cào mới. Hùy xem xong rồi tĩnh bơ nói:
. Thôi gác chuyện ni qua một bên
Anh ta vào ăn uống rồi đi khai quật cho bằng được xác máy bay. Tôi đun nước trà đổ bi đông chuẩn bị đấy đủ dụng cụ. Hùy mang theo nào búa, kìm, mũi ve cho vào một túi và lấy cây rựa phát đường, tôi lẽo đẽo đi sau.
Hùy chỉ tay về phía trái nói:
- Phía đó hồi trước có 1 cục như cái mũ dây điện bóng bán dẫn tùm lum.Chắc quanh đó có máy móc máy bay văng sót lại,mình đi về phía đó.
Đúng như Hùy nói, đảo một vòng tìm gặp một mớ dây điện linh kiện nửa chìm trong đất nửa nổi. Nó banh ra rồi chê lắc đầu đi tiếp. Lâu lâu lại có mấy miếng nhôm đuyra đã oxy hóa. Hùy bảo máy móc nặng chắc lăn xuống dưới réc su, tui với anh tìm xuống đó. Tôi theo Hùy lùng sục dưới réc đến trưa chỉ thỉnh thoảng nhặt được mấy miếng nhôm quăn queo.
Thấm mệt do thức đêm với trèo đèo leo dốc hôm qua đến nay. Tôi nói:
- Thôi vậy là được rồi, tìm không có đâu. Người ta gom nhặt hết rồi. Mình nghỉ trưa rồi về kẻo đường xa.
Hùy theo tôi lên gom đồ, ngồi ăn trưa hắn còn chọc tôi nữa mới điên chứ:
- Hay đêm nay mình ở lại một đêm nữa đánh soong ném lửa cho vui rồi thủng thẳng mai về.
Tôi đứng lên dạo quanh nhìn lại một lần về phía biển. Thật tuyệt vời một màu xanh đến hút tầm nhìn. Bao nhiêu làng xóm như thu nhỏ uốn lượn ven sông thật là đẹp. Nhìn về phía Mỹ Trung (Hạc Hải xưa) đúng thật đẹp nên thơ. Tôi thăm lại lần nữa lô cốt nhìn lên trên khung cửa có dảy số 1966 mà thầm nghỉ trước đây có những người lính xa nhà trực chiến ở đây chắc thiếu thốn trăm bề. Nay hòa bình lập lại mấy ai tìm đến nơi rừng sâu núi thẳm này thăm lại làm chi.
Hạ sơn tôi bước theo chân Hùy và hỏi nó:
- Hùy ơi chiếc máy bay Mỹ bị bắn tan xác ở đây theo em bị trúng pháo hay tên lửa?
Hùy trả lời:
- Anh hỏi tui thì tui biết hỏi ai.
Hai đứa cùng cười chuyện vui cho quên dặm đường dài. Về đến nhà Hùy thì trời cũng về chiều, đôi chân tôi mỏi rã rời nhưng cảm giác một đêm trên đỉnh Đâu Mâu thật ấn tượng.
Câu chuyện có thật mấy mươi năm về kỷ niệm tìm xác máy bay cứ nguyên vẹn trong tôi về ngọn núi Đầu Mâu quê hương và những di tích chiến công thầm lặng của người Quảng Bình quê tôi. Thật tự hào rằng mình đã có một lần chinh phục được ngọn núi từng đi vào sử sách này. Mỗi lần về quê nhìn ngọn núi xanh chọc lên trời như ngọn bút chỉ thiên tôi thấy tự hào về ngọn núi quê hương Quảng Ninh tôi (Đầu Mâu vi bút, Hạc Hải vi nghiên) mà người xưa cảm nhận thật tài hoa và bản thân tôi từng được chiêm nghiệm.
Biên Hòa, ngày 23 tháng 05 năm 2016

Nguyễn Hữu Huỳnh