Hàng Việt không của người Việt: Hơn cả lừa dối, đó là sự hình thành thứ văn hóa nguy hiểm
Tác giả: Thuần Dương Nguồn: Đại Kỷ Nguyên Ngày đăng: 2019-06-25
Khi một loạt các doanh nghiệp tên tuổi, đạt danh hiệu “Hàng Việt Nam chất lượng cao” hay “Thương hiệu quốc gia” lại có tỷ lệ nhập khẩu từ Trung Quốc quá nhiều, dù có giải thích theo cách nào, thì người ta vẫn thấy không thỏa đáng.
Bởi chỉ một chiêu quảng cáo theo kiểu “đánh lận con đen” sẽ dẫn tới việc mất niềm tin, và hình thành một thứ văn hóa nguy hiểm trong xã hội.
Lấp liếm, thổi phồng cũng là giả, nào cứ phải là lấy của người làm của mình
Gần đây, vụ việc một doanh nghiệp điện tử gia dụng bị cáo buộc nhập hàng từ Trung Quốc về dán nhãn “xuất xứ Việt Nam” đang thu hút sự chú ý của cộng đồng. Doanh nghiệp đã giải thích: đa số phần cứng của thiết bị là nhập từ Trung Quốc; sản phẩm được lắp ráp bằng dây chuyền có công nghệ Nhật; phần mềm được viết tại Việt Nam.
Những vấn đề pháp lý liên quan chưa được làm rõ, và cũng chưa có tiền lệ trong xử phạt doanh nghiệp lắp ráp các mặt hàng OEM (Original Equipment Manufacturer – có thể hiểu là sản phẩm được lắp ráp từ các bộ phận, thiết bị nhập khẩu từ nhà sản xuất chính hãng khác). Vậy nên hiện tại có khá nhiều doanh nghiệp tên tuổi ở Việt Nam đang không thật sự kinh doanh hàng hóa được sản xuất tại Việt Nam mà vẫn sử dụng danh hiệu hay cách thức quảng cáo khiến người tiêu dùng bị nhẫm lẫn.
Trước vụ ồn ào của doanh nghiệp điện tử này, người ta đã từng hoài nghi một “tập đoàn gia dụng hàng đầu Việt Nam” vì phần lớn hàng hóa của doanh nghiệp lại có xuất xứ từ Trung Quốc hay Đài Loan. Nhiều người tiêu dùng cho rằng, việc doanh nghiệp cố tình làm nổi bật thông tin về công ty thiết kế, giám sát chất lượng cho sản phẩm của họ có yếu tố tới từ Úc và họ là đơn vị nhập khẩu, đã khiến nhiều người hiểu nhầm về nguồn gốc sản phẩm.
Một doanh nghiệp đồ gia dụng khác tự nhận là “Cánh chim đầu đàn Việt Nam” cũng đã đạt các danh hiệu “Hàng Việt Nam chất lượng cao”, “Thương hiệu quốc gia”, nhưng có rất nhiều sản phẩm mà 100% thành phần tới từ Trung Quốc. Doanh nghiệp khẳng định tất cả các bộ sản phẩm của mình đều được chuẩn hóa quy trình sản xuất, ứng dụng dây chuyền công nghệ hàng đầu của Mỹ, Hàn Quốc, Malaysia… và họ nhấn mạnh vào điểm này thay vì xuất xứ hàng từ Trung Quốc.
Trung Quốc hiện nay được coi là xưởng gia công giá rẻ của toàn thế giới. Nơi đây cũng là cái nôi của rất nhiều thiết bị, linh kiện, sản phẩm OEM cung cấp cho các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp trên toàn cầu. Hình thức thuê sản xuất linh kiện ở Trung Quốc, về Việt Nam lắp ráp gia công, rồi quảng cáo là thương hiệu Việt vì thế cũng đã phát triển mạnh.
Có người nói hàng Trung Quốc “đội lốt” hàng Việt cũng không phải là nói quá. Chỉ thêm một vài giá trị không đáng kể lên sản phẩm nhập khẩu là trở thành hàng Việt Nam, lợi dụng tâm lý “Người Việt dùng hàng Việt” để phát triển thương hiệu và kiếm lời.
Các doanh nghiệp này khi được đặt câu hỏi về xuất xứ hay tỷ lệ các chi tiết có nguồn gốc Trung Quốc đều khẳng định rằng họ đã tuân theo đúng quy định hiện hành khi ghi thông tin lên nhãn mác.
Vấn đề pháp lý liên quan có lẽ lại là một câu chuyện dài khác, nhưng cách thức quảng bá nhấn mạnh vào các yếu tố công nghệ tiên tiến của Nhật Bản, Úc, Hàn Quốc, hay sử dụng danh hiệu “hàng Việt Nam chất lượng cao”, “Thương hiệu quốc gia”… đã như một chiêu bài đánh lạc hướng người tiêu dùng.
Nguy hiểm hơn, nó đang hình thành một sự hoài nghi trong xã hội, đó là điều dễ dàng nhận thấy.


(Ảnh: vtc.vn)
Xu hướng giả dối trở thành tư duy, văn hóa nghi kỵ nguy hiểm
Khi người tiêu dùng hoài nghi với sản phẩm thương hiệu Việt, đó sẽ là một hàng rào ngăn cách đối với những sản phẩm Việt thực thụ, những nhà kinh doanh chân chính đang dốc toàn bộ tâm huyết và tận dụng nguồn lực quốc gia để phục vụ người Việt được tốt hơn.
Và đối với xã hội, nó hình thành thứ văn hóa nghi ngờ, vốn là nguồn gốc của sự bất ổn. Khi người ta không còn tin vào lời nói của người khác, không còn tin vào sự trung thực của người khác (từ quảng cáo, người bán hàng, doanh nghiệp cho tới các tổ chức có thẩm quyền trao tặng danh hiệu…), họ sẽ hình thành tâm lý bảo vệ bản thân, xây dựng tường rào quanh mình, nhìn đâu cũng thấy nguy hiểm, dối trá.
Dần dà, tâm lý cảnh giác lẫn nhau sẽ trở thành thói quen tư duy trong cuộc sống. Trong xã hội bình thường, khi thấy có kẻ lén lút, làm điều ngược đạo lý thì mang tâm lý cảnh giác cũng không có gì quá đáng. Nhưng khi tâm lý cảnh giác không đến từ những tín hiệu của đối phương, khi ta cảnh giác không phải vì đối phương có biểu hiện khuất tất, mà là nhìn đâu cũng dấy lên tâm lý cảnh giác, tự cho rằng người khác có ý đồ không tốt, thì đây không phải là trạng thái bình thường của một xã hội lành mạnh.
Sống như vậy vừa mệt mỏi, lại vừa thiếu sự thông cảm. Mà trong một xã hội thiếu sự cảm thông và rộng lượng, sự tử tế sẽ dần biến mất. Người ta hằm hè nhau, sẵn sàng chửi bởi, thóa mạ người khác. Sẵn sàng động chân động tay, ưa thích bạo lực vì tự thấy bất công, muốn đứng lên trên người khác vì tâm lý bảo hộ bản thân.
Cái giả và nghi kỵ khiến con người ta thiếu đi sự thân thiện, nhã nhặn khi cư xử với nhau. Ngày nay nhìn người Việt Nam đi ngoài đường hay ẩn danh trên mạng xã hội, không khó mà thấy cách hành xử thiếu lý trí, hùng hổ bất chấp lý lẽ. Đó là vì họ chẳng để cho lý trí suy xét xem hoàn cảnh của người khác thế nào, chỉ cần thấy trái ngược với cảm quan của họ là tấn công. Vừa là thể hiện sự hơn người, nhưng cũng chính là sự bảo vệ bản thân bởi không tin tưởng vào sự tử tế.


(Ảnh minh họa: tinmoi.vn)
Giáo sư Hoàng Ngọc Hiến có nói rằng:
Xã hội không quan tâm đến ‘sự tử tế’, ‘sự hẳn hoi’ thì dần dà những người tử tế, hẳn hoi sẽ biến mất; ngược lại, xã hội còn nhớ đến những phẩm hạnh này, thì những người hẳn hoi, tử tế mới xuất hiện được.
Những giá trị giả cũng sẽ làm nản lòng sự trung thực và nỗ lực chân chính. Những nhà sản xuất sẽ bị cuốn theo trào lưu quảng bá dựa trên sự phóng đại, “lộng giả thành chân”, mà không dựa trên thực lực và giá trị cốt lõi của sản phẩm, không dựa trên việc phục vụ tốt nhất mà là kiếm được nhiều lợi nhất. Khi nghi kỵ trở thành một thứ văn hóa, nó tác động ngược lại và cái giả sẽ lan truyền rất mạnh, bởi ai cũng không cần trung thực nữa. “Đằng nào cũng có ai tin mình đâu, nếu cứ chân chất mà đi sẽ rất lâu mới đuổi kịp người khác”.
Người kinh doanh sẽ không muốn đi con đường chân chính vì quá dài và gian khó lại ít lời. Người đi học cũng chẳng muốn học hành chăm chỉ mà tìm cách mua bằng, mua điểm. Người đi làm cũng muốn “đi tắt đón đầu” nương theo ý sếp, nịnh nọt, mua chức, chạy quyền.
Một xã hội đầy nghi kỵ sẽ gấp gáp mà lại mục ruỗng, bởi các giá trị chân chính như chân thực, nhẫn nại, thiện lương đã không còn nữa rồi.

Thuần Dương


Hàng Tàu dán mác Việt: Nỗi đau từ những cái nhãn
Tác giả: Đoàn Phạm Nguồn: Đại Kỷ Nguyên Ngày đăng: 2019-06-25
Mấy hôm nay, dư luận trong nước đang xôn xao về việc một nhãn hàng điện tử nhập nguyên chiếc từ Trung Quốc lại đội lốt “xuất xứ Việt Nam” và nghiễm nhiên trở thành “Hàng Việt Nam chất lượng cao do người tiêu dùng bình chọn”. Thực hư chuyện này chưa biết ra sao, nhưng bao nhiêu người đã từng bị lừa bởi những cái nhãn?
Hồi bé, khu phố nhà tôi có một thằng bé trạc tuổi tôi, mặt mũi hiền lành khôi ngô, khốn nỗi chả đứa con nít nào chịu chơi với nó. Lý do là vì nó bị “dán nhãn” là “con hoang”. Kể cũng thật kỳ lạ! Tôi từng nhìn thấy cu cậu buổi sáng quét sân giúp mẹ, chiều đi học về biết tạt qua hàng rau mua rau về chuẩn bị cơm… Thằng bé tốt nết, thế mà chỉ hai chữ “con hoang” dán lên là giá trị rớt xuống cái bùm.
Lớn lên một chút, chính tôi lại té ngã vì cái nhãn “sinh viên đại học” của anh con trai nhà hàng xóm. Anh nom rất thư sinh, trí thức, tán tỉnh tôi bằng những câu chuyện về cuộc sống sinh viên ngoài Hà Nội của anh bên giáo trình, thư viện và thực tập công ty lớn… Tôi – con bé 16 tuổi ngây thơ nhẹ dạ tin và yêu anh, đến nỗi một giai đoạn chểnh mảng bài vở. Đùng một cái, tôi được tin anh bị nhà trường đuổi học vì bỏ tiết quá nhiều, thì ra anh đều đặn nhận tiền hàng tháng của bố mẹ để nướng vào cá độ.
Chỉ là một cái nhãn thôi mà. Dán lên có gì khó! Thế mà bao nhiêu người dễ dàng tin, từ đó ngầm công nhận nội hàm mà cái nhãn đó mô tả. Một cái nhãn bóng bẩy hào nhoáng có thể thu bộn tiền lời. Một cái nhãn xấu xí lại có thể huỷ hoại cả đời người.
Không là phóng đại khi nói một cái nhãn xấu xí có thể huỷ hoại cả đời người. Trong “Cải cách ruộng đất” ở Trung Quốc (1946-1952), hai mươi triệu dân nông thôn trên toàn quốc đã bị dán nhãn là “địa chủ”, “phú nông”, “phản động“, và “phần tử xấu”. Những con người mới bị xã hội ruồng bỏ này đã phải đối mặt với sự phân biệt đối xử, nhục nhã, và đã mất đi tất cả các quyền công dân của mình. Gần một trăm nghìn địa chủ đã bị giết chết trong chiến dịch này.


Tại Trung Quốc, những cái nhãn mác đã cướp đi không biết bao nhiêu sinh mệnh. (Ảnh: pttweb.tw)
Một ví dụ đau lòng nữa: Năm 1989, chính quyền Trung Quốc đã huy động 180.000 quân với xe tăng rầm rộ tiến vào thành phố để trấn áp cuộc biểu tình đòi tự do dân chủ của những học sinh sinh viên yêu nước trên quảng trường Thiên An Môn. Những học sinh sinh viên này bị vu khống, dán nhãn là “phần tử bạo loạn phản cách mạng”, đã bắt cóc và giết chết nhiều binh lính, đang chiếm giữ quảng trường Thiên An Môn nên cần phải bị tiêu diệt để bảo vệ Đảng, bảo vệ nhân dân. Quân lính đã nhận lệnh và tin điều này. Họ tiến vào quảng trường Thiên An Môn và xả súng vào hàng ngàn người tay không tấc sắt, xe tăng nghiền nát tất cả các chướng ngại vật và sinh viên. Họ không thể ngờ rằng hành động này đã mang lại nỗi ân hận và tội lỗi lớn nhất trong cuộc đời họ, không sao gột rửa hết được.
10 năm sau thảm sát Thiên An Môn, hàng trăm triệu người Trung Quốc lại bỗng dưng bị dán nhãn là “tà giáo” chỉ vì họ tập khí công để thân thể khỏe mạnh và tu dưỡng nội tâm theo tiêu chuẩn Chân – Thiện – Nhẫn. Pháp Luân Công vốn là môn khí công được ưa chuộng nhất bấy giờ, mọi người tập luyện tự do không hề có tổ chức, bỗng chốc trở thành “giáo phái”, hơn nữa lại còn gọi là “tà”. Và đó là cái cớ để ông Giang Trạch Dân khơi ngòi cuộc đàn áp đẫm máu “vắt kiệt tài chính, bôi nhọ thanh danh, huỷ hoại thân thể” lên những người dân lương thiện. Khi học viên Pháp Luân Công nói rõ sự thật, thỉnh nguyện lương tri thì Đảng Cộng sản Trung Quốc lại chụp cho họ cái mũ “làm chính trị”.
Xem video: Giải mã thất bại của Trung Quốc khi che giấu sự thật về Pháp Luân Công Giải mã thất bại của Trung Quốc khi che giấu sự thật về Pháp Luân Công Vậy là quá đủ cho những cái nhãn.
Có lẽ vì lịch sử giả dối của chính quyền Trung Quốc nên giờ đây người dân trên toàn thế giới đều không mấy hài lòng khi đọc thấy trên nhãn mác sản phẩm dòng chữ “Made in China”. “Made in China” dường như ám chỉ một thứ gì đó rẻ tiền, kém chất lượng, hàng giả hàng nhái hàng rởm. Có phải vì thế mà có doanh nghiệp Việt Nam mới tìm cách để xoá đi dấu vết “China” và thay bằng “Hàng Việt Nam chất lượng cao”?
Nhưng mà chẳng phải có câu “Chiếc áo không làm nên thầy tu” đó sao? Chiếc nhãn nào dù hoàn hảo đến đâu cũng không thể mãi mãi lừa dối người khác; sự thật nhất định sẽ có ngày sáng tỏ.

Đoàn Phạm
--------
Chú thích:
[1] Bài “Nạn đói khủng khiếp” trong quyển Những ghi chép về lịch sử của Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.