Chiếc 'tù-à-tù' của người bản địa.
Tác giả : Lê Hùng Ngày đăng: 2019-08-13
….. Thì ra người bản địa Aborigène, họ cũng giống như tôi và đồng bào tôi đã bị văn minh thời đại làm cho quên lãng văn hóa Việt nam xinh đẹp và thuần túy trong huyết quản mình ! Tôi không ngần ngại mà xác quyết rằng người Việt nam tại hải ngoại hôm nay không còn giữ được tinh chất văn hóa thuần túy như trước đây. Trái lại, phần đông trong số họ, trước đây khi còn ở Việt nam đã từng tự cho mình là thức giả, nhưng hôm nay ra hải ngoại lại mang chứng bệnh lãng quên, không còn giữ được văn hóa căn bản của người thanh lịch mà lại tiến hóa theo trào lưu xô bồ để làm nhiều điều rất trái quấy. kỳ cục, khác hẵn với phong tục tập quán mà họ đã hấp thụ trong suốt tuổi trưởng thành của họ. Chính họ vô tình hay hữu ý cổ xúy làm gương xấu cho lớp cháu chắt họ.


(trích phần đi hè Úc châu)
Người đàn ông thân mình vạm vỡ, gần như trần truồng, cố ra sức thổi một điệu nhạc lạ tai. Âm điệu hoàn toàn không thay đổi hay dồn dập inh ỏi như loại nhạc rock thời trang của tây phương hay yểu điệu lả lơi như loại nhạc tiền chiến trên quê hương mà tôi thường nghe biểu diễn tại các thính phòng. Toàn bản nhạc, không có phần kết thúc, mà chỉ là những âm thanh đều đều, trầm trầm: “tù à tù, tù à tù'. Tôi không biết tên của nhạc khí này theo thổ ngữ là gì, người dân Úc gọi là nó là Didgeridoo theo âm hưởng tiếng Anh, nhưng tôi thì dựa vào âm thanh mà đặt tên cho chiếc nhạc khí này là "tù à tù".
Tôi viếng thăm Úc châu lần nầy là lần thứ sáu, và đã ba lần ghé vùng núi Blue Mountains để ngắm cảnh núi rừng của dãy núi The Three Sisters. Xuống ga Laura, cứ đi đọc theo suốt con đường chính của thành phố, xéo chệch qua trái, rồi nhìn men theo ven triền núi để nhận cho rõ ba chỏm đá tượng hình 3 người con gái thiên nhiên kia, và lần nào đến đó, tôi cũng không khỏi dừng chân xem lão trổ tài.
Lão độc tấu thuộc lòng bản nhạc và chỉ có lão biết, một mình lão. Mọi dáng điệu biểu diễn chẳng hề thay đổi. Mọi tiết tấu vẫn giữ y nguyên. Mọi âm điệu vẫn mang sắc thái giận hờn, căm tức. Dường như các đặc tính đó cứ chực sẵn trong tim óc lão, tiện dịp là trào ra.
Đó là điều khó hiểu đối với người ngoài, nhưng với lão thì đó là quán tính, là bẩm sinh, đã bám cứng vào lão từ khi sinh ra cho đến giờ, làm sao quên được. Nếu mà lão được mất trí để trở thành người hiện đại thì lão hẵn cũng không hiểu được thổ ngữ của lão đang nói và thưởng thức được điệu nhạc mà lão đang trình diễn. Chỉ có con người bẩm sinh của lão mới hiểu được những thói quen và sở thích của lão thôi.
Nhiều người bảo rằng lão từng nuôi mộng làm cuộc cách mạng cho dân tộc lão thoát khỏi sự cai trị của người Anh, nhưng vì lão mang theo những tâm sự cá biệt triền miên của gia tộc và của tôn giáo, nên từ lâu lão không tìm ra được lối thoát nào cho thỏa đáng. Có người đoán rằng lão cố níu kéo thời gian trở về thuở hoàng kim thời đại cuả ông bà tổ tiên lão, thời buổi hoang sơ, thức ăn trời cho sẵn, cây trái đầy rừng, chỉ cần vài người nô bộc ra sức săn hái đem về cúng hiến là đủ. Nhưng lão cũng đã có lần nghĩ rằng nếu lão thực hiện được cái mộng mơ riêng tư của lão để kéo lùi cả sắc tộc lão trở về thời ban sơ thì liệu cháu chắt của lão có chịu đựng nỗi cảnh thay đổi đó không ?, liệu chúng có thích ở lều trại, uống máu tươi của thú vật mà lấy làm ngon như tổ tiên của lão đã từng cảm thấy thú vị chăng ?, liệu chúng có chán chường với điệu nhạc độc điệu rền rĩ của tổ tiên chúng khi so sánh với những âm nhạc tình cảm đa dạng và những tiện nghi vật chất của thời nay mà chúng đã quen từ khi được sinh ra trong thế kỷ 21 này chăng ? Liệu mọi người hiện tại trên lục địa Úc châu này có đồng ý với lão để vứt bỏ các nhà máy kỹ nghệ, buộc chúng phải ngưng hoạt động, giống như nén con con tim buộc nó phải ngừng bơm máu vào cơ thể để cho toàn xã hội trở nên chậm chạp và thinh lặng với tiếng gió rì rào và tiếng chim ríu rít không ? Rõ ràng lão thấy không ổn ! Nhưng lý trí của lão bay theo một hướng và tình cảm lại chạy theo một nẻo trái ngược khiến lão càng cảm thấy bực bội trong người hơn !
Trên bộ mặt nhăn nhó thảm thương của lão, dưới hai cung chân mày chạm vào nhau, hiện hình hai con mắt úp tròn lồi ra như rắn lục địa Phi châu, vì bị bịt kín bởi hai dãy lông mày rậm đen. Miệng lão ấn mạnh vào chiếc tù à tù chừng nào thì hai gò má lão càng phồng to ra, và những đường gân máu nổi bật tạo thành đường nếp gò ghề rất xấu xí. Đặc biệt là tốc điệu thôi thúc phát ra từ chiếc nhạc cụ rất ăn khớp với điệu bộ nhún nhãy của lão. Hai khuỷu tay lão cứ theo nhịp "tù-à-tù” nhắc lên rồi khép lại vào nách, dưới sức nóng 30 độ bách phân càng làm cho thân hình lão nhễ nhại cả mồ hôi. Cái lối đánh nhịp của lão trông ra cũng thô sơ và dễ dàng. Chỉ cần hai gót chân thay phiên nhau dậm mạnh xuống mặt đất như đứa trẻ vừa chập chững đi đã tạo thành mấy lỗ hổng to tướng dưới gót chân lão đủ cho du khách hôm nay đoán biết sức đay nghiến đang dằn vặt tâm tư lão. Có điều là dù cho lão cố hết sức thổi để tạo ra những âm thanh “tù à tù' khác cao hơn, nhưng vô vọng ! Bởi lẽ hơi của lão không thể nào lắp đầy thể tích của khoảng trống trong một ống gổ cong queo với đường kính hơn 5 phân và dài gần hai thước.
Trên nếp da thịt nhăn nheo lổm chổm khô khan và đen bẩn của lão, từ đầu đến chân được trang điểm bởi những hình vẽ bằng một loại bột hồ mầu trắng. Thoạt nhìn, tôi hồi tưởng đến các hình vẽ trong mấy bài giảng khảo cứu cỗ học Việt nam của linh mục triết gia Kim Định và những bức vẽ trừu tượng của Picasso, vì đi lại chỉ là những đường có hình xoáy ốc, hoặc ngay giữa trán, hoặc trên hai gò má, và trên ngực. Xung quanh hai con mắt và môi miệng, lão bôi thêm mấy chấm mầu đen và mầu xanh chàm. Riêng ở phần dưới bụng, nơi hai cánh tay và hai đùi chân, được tô thêm những đường thẳng với nét đậm to bằng ngón tay trỏ của lão. Có lẽ nhờ vậy nên du khách đứng nhìn không thấy được những đường nhăn xù xì xếp thành hàng trên da lão. Khi nhìn vào bắp thịt ở chân tay lão, người các nước Tây phương chẳng ai tin rằng lão đã ngoài 80 tuổi. Toàn là những thớ thịt rắn chắc như cây gổ của chiếc “tù à tù` mà lão đang dùng để độ nhật. Phải chăng khi chiều tối về nhà, lão vẫn giữ khuôn mặt trét phấn đó và những hình vẽ ngứa ngáy trên người lão chăng ? Chắc là không, vì thời xa xưa khi lão còn là chú bé lão đã nhìn thấy cha ông của lão tô phết mình mẩy và thổi "tù à tù" trong các lễ hội huyền bí của sắc tộc, và sau đó họ nhảy xuống suối mát kỳ cọ cho sạch hết lớp phấn bợn nhơ để da thịt được thảnh thơi, tâm trí được giải thoát và cười đùa với bạn bè và con cháu trong dòng nước trong mát. Lớp phấn, điệu nhảy và khúc điệu "tù a tù" chỉ là để gợi nhớ lại thời trai trẻ xa xưa với những kỷ niệm vui vẻ không phai trong lòng lão. Hiện nay nó chỉ phục vụ để hoài niệm dĩ vảng mà thôi.
Không biết lão đến đây từ bao giờ, nhưng chắc chắn trước ngày Thomas Lê Hoàng mua nhà nghỉ mát cuối tuần ở thành phố Laura thì người ta đã thấy lão đến đây biểu diễn điệu nhạc “tù à tù'.
Tôi nghe rằng lão là người gốc dân bản địa xuất hiện từ hơn 40.000 năm trước, nay còn sống sót trên lục địa Úc châu nầy, gọi là sắc tộc Aborigène. Thực ra nói như vậy cũng chưa ổn ! Bởi lẽ khi nói đến dân bản địa Aborigène tại Úc thì cũng phải đề cập đến sắc tộc kỳ cựu Torres Strait Islander ở miền cực Bắc xứ nầy. Mặt khác trên lục địa Úc châu có những hàng trăm loại thổ dân Aborigène với nhiều văn hoá và tiếng nói khác nhau. Tính ra hơn 300 ngôn ngữ và trên 800 thổ ngữ giữa những văn hoá dị biệt như Murri, Koori, Nanga hay Yolugo.. .. Nay với thời gian, một số sắc tộc bản địa đã bị đồng hóa hoặc biến mất.
Có lẽ lão không tin vào định luật biến hóa tất yếu lịch sử, nên mấy chục năm nay lão đã ra công níu kéo bước tiến của sắc tộc lão. Lão nói tiếng Pháp khá trôi chảy và cho tôi biết có 9 ngừơi vợ, nhưng không nói đến số con cái và các bà vợ trú ngụ tại đâu.
Từ ngày chính phủ liên bang Canberra đã ra chính sách giúp đỡ các sắc tộc bản địa, bằng cách cung cấp vô điều kiện những căn nhà đầy đủ và tiện nghi thời trang cho người Aborigène, để họ sống tập trung thành làng xã, thì lão đã biến mất khỏi vùng đất của tổ tiên lão di truyền lại cho sắc tộc để chuyển đến chỗ ở mới của chính phủ trao tặng. Có người nghe lão phàn nàn rằng sự tập trung các sắc tộc bộ lạc Aborigène của chính phủ liên bang là hình thức văn minh tiêu diệt mọi văn hoá các sắc tộc bản địa. Vâng, qua hơn 40.000 năm, sắc dân bản địa Aborigène của lão ở đây, cũng như các sắc đân khác trên khắp hoàn cầu nầy đã trải qua và thích nghi với bao nhiêu văn hoá và thể chế khác nhau. Từ cách ăn uống, phục sức, và kể cả việc sinh con đẻ cái, thì các tổ tiên của lão đã thích nghi với hoàn cảnh để chu cấp và lo lắng đầy đủ cho con cháu. Nay người ta cứ lý luận rằng tổ tiên lão đã từng không biết tôn trọng giá trị của mỗi người dân trong sắc tộc của mình mà chỉ đánh giá họ theo năng xuất lao động chẳng khác nào như trâu bò phải kéo cày, hoặc heo gà trở thành thức ăn. Vì sao ít ai nghĩ cho rằng tổ tiên lão là những kẻ giàu lòng nhân hậu, chẳng khác nào như thời nay người ta bỏ tiền ra mua con nít của các nước nghèo đói đem về làm con nuôi ? Theo lão nghĩ thì đứa con nuôi thực ra chỉ mang hình thức tình thương bên ngoài để che đậy cho trò tiêu khiển của một số giàu sang ở bên trong. Vì sao ít ai nghĩ rằng khi người giàu chịu bỏ ra một số vốn cố định để mua một món hàng mà không có hậu ý trao đổi về sau ? Vì sao ít ai nghĩ rằng sự trao đổi về sau của mặt hàng đã giúp cho số vốn tích lủy càng lớn, càng giàu ? Nghĩ đến đây thì lão hơi ngập ngừng vì e ngại rằng người ta sẽ tin rằng lão chưa hề cảm nghiệm được thế nào là tình thương đối với người ngoài, tức là lòng yêu người như lão thường nghe người thời nay nói. Mà quả thật, thời của lão thì tình thương chỉ dành cho người thân thích và những kẻ cùng quyền lợi mà thôi, chứ đối với người ngoài thì e rằng chỉ có nghi ngại và lắm khi sợ hãi thù ghét ! Thì ra tình thương đối với tha nhân chỉ nảy sinh khi ta có vật chất đầy đủ và dư thừa của ăn thôi. Thời nay vật chất đã dư thừa cho nên mới sinh ra lễ nghĩa, mới chia xẻ tình thương cho người ngoài, mới nuôi con nuôi, giúp kẻ nghèo khổ mồ côi túng thiếu. Ở thời đại của tổ tiên lão, vì miếng ăn chật hẹp và lắm khi thiếu thốn, hễ kẻ nào giành miếng ăn của mình thì khó mà thương được, lắm khi phải thù ghét hảm hại lẫn nhau để sinh tồn. Và lão chợt nhận ra rằng, thời đại văn minh với vật chất dư thừa của bây giờ cũng có nhiều cái tốt mà thời lão không có hoặc rất hiếm hoi. Nghĩ đến đây thì lão bớt giận, tuy rằng nền văn minh thời nay có lấn ép văn hóa cổ xưa của sắc tộc lão đi chăng nữa thì ở mặt khác, nó lại giúp ích nhiều cho người dân trong xã hội. Bằng chứng là họ cho lão và dân Aborigène của lão nhà cửa miễn phí mà !! Vậy thì sự mất mát về tinh thần của các dân Aborigène như lão cũng được bù đắp và thay thế bằng những cái tốt hơn mà hiện nay lão và con cháu lão đang thụ hưởng. Xét cho cùng thì có ai cướp mất giá trị tinh thần của sắc tộc lão đâu ?, lão vẫn được tự do thổi "tù à tù", vẫn có quyền bôi mặt và nhảy vũ diệu cổ truyền của lão, duy chỉ có đất đai thì lão đã không thể chiếm cứ cho riêng sắc tộc lão như trước mà phải chia xẻ với những lớp người của hế hệ sinh sau, trong đó có con cháu của lão, và các thế hệ này chúng đã không cảm thấy phiền hà gì khi thích nghi với nền văn minh mới mà chính lão cũng đang cố gắng hòa mình dù lắm lần cảm thấy phiền muộn vì không tìm thấy những tình cảm ấm áp và những thói quen đáng yêu của thời đại xa xưa của lão.
Lão không chối cải việc xã hội ngày nay đã trả ơn cho tổ tiên lão bằng một tư sản khổng lồ. đất đai ngày càng rộng, lâu đài đinh thự ngày càng nhiều. Nhưng trước thành quả phồn thịnh của văn minh thời nay, cũng không nên nhìn lui và chê bai văn hóa cổ xưa, vì trong lịch sử của sắc tộc lão, họ cũng đã từng chăm sóc cho người dân thiếu ăn khá hữu hiệu. Tuy không có việc cho không hoặc miễn phí cho người dân, nhưng tổ tiên lão đã dùng phương pháp thực dụng để tập trung những nhóm người nô lệ nghèo khổ thành xã hội bộ lạc và khuyến khích họ lao động bằng hình thức thưởng công cho những gia đình nào đã nhiều đời trung thành với sắc tộc và về sau gạn lọc và tuyển chọn họ làm thành những đám dân thân tín và phục vụ hết lòng cho sắc tộc.
Từ đây số các gia đình trung thành được tuyển chọn đó lại được quyền cai quản một số người nghèo khổ khác làm tôi tớ và quán xuyến công việc sản xuất cho họ và cho sắc tộc. Một hình thức xử dụng nô lệ trong điều kiện đặc quyền và ấm no. Vậy sắc tộc của lão cũng đạt đến mức văn minh của của nước Mỹ hồi còn xử dụng nô lệ da đen cho việc sản xuất đấy chứ ! Thật là thực dụng và tốt lành nhưng lão không hiểu tại sao ông tổng thống Abraham Lincoln lại hủy bỏ chế độ nô lệ đó trên toàn cỏi nước Mỹ ? Có phải vì vậy mà nước Mỹ trở nên phồn thịnh hơn chăng ?? Lão chưa hiểu nỗi !
Thật vậy, nếu không có những tổ tiên ông bà của gia đình lão đã tìm cách tập trung người dân bản địa thành bộ lạc nô lệ công khai phá rừng rẩy đất đai, thì chẳng bao giờ có cộng đồng Aborigène hôm nay.
Lão muốn người dân bản địa nhắc nhở và ghi ơn tên tuổi tổ tiên lão.
Lão muốn lịch sử nhân loại phải dành cho tổ tiên ông bà của lão và cho chính lão một chổ đứng, cũng như người Ấn độ đã dành vị trí kính trọng cho thánh Gandhi, vì ông ta là người đã từng kết tội văn minh và cho rằng nguyên nhân mọi sự nghèo khổ của Ấn độ là vì văn minh khoa học đã phát triển quá mức. Việc lão từ bờ vùng hoang địa cằn cỗi giữa sa mạc Úc châu để di cư đến đây sống một mình giữa núi rừng Blue Mountains với chiếc 'tù à tù' là hình thức chống trả văn minh tây phương, dù chỉ là thụ động.
Thực ra. lão không đủ sức để hô hào cổ xúy người đân bản địa trong việc loại bỏ những nhà máy kỷ nghệ như thánh Gandhi đã làm, nên lão chỉ quyết lợi dụng chiếc “tù à tù“ nói lên niềm ấm ức cuả lão. Theo lão nghĩ, ít ra trong sắc tộc Aborigène hiện đang có nhiều tộc trưởng như lão, xưa kia từng một thời được biệt đải, mới còn biết thưởng thức loại nhạc đó và sẽ tán dương cổ võ hành động của lão.
Lớp người thủ cựu nầy sẽ hiệp sức với lão cùng hô hào thế hệ kế tiếp bảo tồn lịch sữ sắc tộc Aborigène. Ý lão muốn nói theo ngôn ngữ của cụ Phạm Quỳnh Việt nam rằng : " 'Tù à tù' còn thì dân bản địa Aborigene còn". Lão chỉ nghĩ rằng khi văn minh tước mất chiếc “tù à tù', thì người dân bản địa không còn là người thuần giống nữa. Có người nghĩ rằng những việc chống đối của lão đã núp sau ý nghĩ khá tỉnh vi, bởi lẽ những người đồng niên với lão cũng sẽ bị đi vào quên lãng. Mọi người như lão sẽ hết được trọng vọng. Lão sợ thổ dân quên lão cũng như chính lão đã quên mất Ngurunden là vị tổ thần khai sinh ra sắc tộc bản địa Aborigène. Lăo sợ con sông Murray rồi đây sẽ bị lấp cạn. Lão sợ làng mạc trong bộ lạc không còn ai nghĩ đến những chiếc nhạc cụ 'tù à tù'. Lão tự biện minh rằng người Tàu đã có câu rằng "mình không vì mình thì trời tru dất diệt" thì với triết lý đó, lão cũng cần phải ích kỷ để bảo vệ cho cái "tôi" của lão và cho sắc tộc của lão chứ, có gì sai đâu ! Có người đã nói với lão rằng, vươn lên đè bẹp hết thiên hạ để giúp cho mọi người sống tốt hơn và hạnh phúc hơn thì đó là điều rất nên làm, chứ vươn lên đè đầu hết mọi người để rồi biến họ thành nô lệ phục vụ cho mình thì đó là điều rất tai hại, vì phản ứng của lớp dân bị bóc lột đàn áp sẽ là "gậy ông đập lưng ông" thôi !! Chẳng hạn nước Tàu vì quá ích kỷ, quá "vì mình" mà trở thành kẻ thù của thế giới, và sẽ đến ngày nước Tàu bị quật ngược để trở thành tôi tớ cho thế giới.
Cứ mỗi lần nhớ đến lão thì tôi nghĩ rằng khi kỹ thuật văn minh đã giúp du khách từ miền Địa trung hải hay Bắc đại tây dương di chuyển đến đây không mấy khó khăn để ngắm những cảnh núi rừng của vùng trời The Three Sisters, nhìn thấy hình ảnh của lão khiến cho mọi du khách sống lại thời đại cổ lỗ. Thật vậy. trên chiếc váy bằng một loại vải dày cộm mục rách, kèm theo vài dụng cụ lỉnh kỉnh bọc quanh thân hình lão trở thành những hình ảnh thời trang trước mắt mọi người. Không ai đám nhìn lão bằng con mắt y tế để bảo rằng lão thiếu vệ sinh, phản khoa học. Trái lại, tại đây những tấm hình khõa thân ngoài phố hay trên màn ảnh tây phương không thể nào thu hút được tánh tò mò của những du khách sang trọng cho bằng hình ảnh của lão. Mọi dáng điệu của lão đều được trả giá bằng tiếng vổ tay và giọng cười hể hả của toàn thể mọi người đang đứng xoay quanh.
Mỗi lần hình ảnh đó hiện ra trong đầu, tôi thường tự hỏi rằng không lẽ trong cái văn minh thời nay còn có một cái gì trọng đại thiếu sót mà loài người đang cố đi tìm hay sao? Tôi biết rằng rồi đây người bản địa Aborigène thế nào cũng phải dùng áo quần theo kiểu tây phương để che chở nắng mưa. Họ cũng sẽ sống trong những biệt thự, có đủ xe cộ, có những máy móc như quạt điện, lò sưởi, máy giặt, tivi và .. máy điện tử. Người dân Aborigène sẽ bỏ lại đàng sau những tập quán thủ tục cổ xưa tuy rằng không ai ép buộc họ. Rồi người ta sẽ tự ý quên mất những miếng trầu cau, những nghi lễ cưới hỏi, những điệu múa tình tự. Tất cả sẽ biến mất như cành cây trơ trụi cuối thu ! Với sự mất mát đó, họ không thể trách cứ ai mà phải tự trách mình vì họ tự ý quên đi cái mà họ có, họ muốn vứt bỏ những đồ cũ kỹ trong nhà vì nhà của họ không đủ rộng để chứa hết những đồ dư thừa không phục vụ cho cuộc sống hằng ngày của họ. Lý do của sự từ bỏ các thói tục cổ xưa là bởi không ý thức được giá trị văn hóa cổ truyền thôi ! Thế là "bụng làm dạ chịu chớ có than van" ! Cây cối rụng hết lá để trở thành trơ trụi có luyến tiếc khi những chiếc lá của chúng rơi rụng trong muà thu không ? Hãn là không vì chúng biết rằng sẽ có những đám lá non tươi mơn mỏn sẽ mọc ra từ cành cây và tô điểm lại vẻ đẹp của chúng như trướớc đó. Vậy có lý do gì để lão phải luyến về những gì đang mất mát ??
Lẽ dĩ nhiên, miền đất đỏ núi rừng làng mạc của sắc tộc Aborigène sẽ biến dạng để bị thay thế bằng những xưởng kỹ nghệ với những ống khói tỏa ra từ miệng lò. Phải chăng những nhà máy này cũng là vẻ đẹp tô điểm cho sự quạnh hiu của núi rừng ?Lão cần phải suy nghĩ thêm để đánh giá cho những thay đổi này.
Những văn hóa sắc dân bản địa sẽ thay đổi, những văn tự và ngôn từ sẽ hòa đồng với các dân tộc có văn minh cao hơn. Và sau cùng, người dân bản địa Aborigène cũng sẽ dùng những nhạc cụ như chiếc saxophone tinh xảo đầy âm điệu hơn chiếc 'tù à tù' để diễn tả tâm tình của họ một cách thiết tha trung thực hơn.
Đôi khi tôi lại vướng phải vấn đề gai gốc khác cần trả lời cho sắc tộc nầy. Để sống còn, con người chưa hẳn cần bám vào một "khung-thời-gian" cố định. Con người đâu cần phải thoát ly một luân lý cố hữu để tùy thuộc vào một tư tưởng giáo điều, một khái niệm khoa học, một lý thuyết triết học hay một tôn giáo độc nhất như thời Trung cỗ tây phương. Con người đâu cần phải hiểu rõ những thiên tai, những biến chuyển trong xã hội, mà chỉ cần hiểu rằng trong vũ trụ thiên nhiên đã có sẵn những thần lực huyền bí khó hiểu luôn luôn hiện diện để điều khiển mọi vật. Thần lực đó, người thời nay gọi là "linh khí", cái mà người Việt thưòng gọi là "hồn thiêng sông núi", và trong sách "Hành Trình về Phưong Đông" của Baird Thomas Spalding đã kể rằng một vị kiết già Ấn Độ đã quả quyết rằng sông núi thực sự có "hồn thiêng" ảnh hưởng mạnh lên con dân của đất nước. Vì sự trùng hợp nầy nên giữa con người và thiên nhiên đã nẩy mầm những huyền thoại, những tôn giáo huyền bí, để rồi từ đó phát sinh ra một trật tự xã hội. (égalitarisme du régime social).
Trong thời bán khai, con người không bao giờ nghĩ đến sự phân chia giai cấp hoặc giàu nghèo và phân định thứ bậc như những vị thần học tây phương bởi lẽ vào thời bán khai, con người chưa tập trung thành xã hội rộng lớn để có điều kiện so sánh thứ bậc và phân biệt lẫn nhau. Trái lại họ chỉ phân chia giữa vị thần hộ mệnh gia đình đang thờ và những vị thần ngoài gia đình đáng sợ.
Hơn 40.000 năm, sắc tộc nầy đã như vậy mà cuộc sống giữa các bộ lạc vẫn khắn khít hài hòa với nhau. Sự hài hòa này không phải tự nhiên mà có, nhưng bởi lý do là "đất rộng người thưa": nếu đã ít người mà lại không hài hòa đoàn kết thì sẽ dễ bị triệt tiêu bởi các bộ lạc khác. Về sau này, khi dân số tăng lên ồ ạt và đông đảo với những sắc dân da trắng từ phương xa tràn vào với tình trạng "đất hẹp người đông" thì sự va chạm của các thứ bậc trong xã hội được lộ rõ nét khiến những giáo điều có triết lý, có khoa học logic xuất hiện. Tính vị kỷ và chữ "tôi" thì đời nào cũng có, ngay từ thời tổ tiên của sắc tộc Aborigène sống rải rác từng vùng cũng đã có "vị kỷ" rồi vì đó là đặc tính bẩm sinh của con người, nhưng nó không lộ liểu vì không có sự cạnh tranh và va chạm, nhưng đến thời có xã hội tập trung đông đảo thì chữ vị kỷ "tôi" (moi) và "của tôi" (mon) mới trở nên đậm nét. Chính ảnh hưởng của văn hóa xã hội đầy lý tính này đã dẫn sắc tộc bản địa nghĩ nhiều về tư lợi. Xã hội tộc trưởng bị lung lay, con người sắc tộc bản địa dần dà chúi đầu vào nhà máy để xây dựng tư hữu (propriété privée).
Lão có lý để nghĩ rằng ông cha lão đã gầy dựng ra đất nước nầy, và hẵn là trước thời gian người da trắng đến đây thì họ sống yên bình vì ít khi xảy ra cạnh tranh lớn. Ở cấp độ bộ lạc thì làm gì có chiến tranh thế giới ? Thế nhưng khi các bộ tộc liên kết lại thành xã hội lớn, rồi các xã hội liên kết với nhau thành khối đồng minh lớn, thì lúc đó cấp độ cạnh tranh sẽ vô cùng lớn mạnh khiến xảy ra thế chiến 1 và 2 trên quả đất tròn bắt đầu trở nên chật hẹp cho loài người. Ngót gần 300 năm, người da trắng đặt chân lên mảnh đất nầy chỉ làm cho bầu trời dân tộc lão thu nhỏ lại. Đất đai ngày càng hẹp dần ! Ngay chính con người lão cũng bị thu nhỏ lại trên mãnh giấy cỏn con mà họ gọi là thẻ căn cước. Rồi cứ loại căn cước nầy đổi sang loại căn cước khác, và hôm nay lai lịch của lão đang dính cứng trong các bộ máy tính điện tử khổng lồ của người da trắng. Chính người da trắng đã cướp mất đời tư cá nhân lão. Chính người da trắng đã nhìn lão, vợ con lão và cả đến họ hàng gia tộc lão, dù đã khuất, như những con số đơn thuần trong con mắt tính toán duy vật của họ ....
Trước mắt lão, người da trắng với nhiều kỹ thuật văn minh đã đến đây làm xáo trộn mọi luân lý kỷ cương sắc tộc của lão một cách khá tinh vi, thế mà họ dám hô hào rằng họ đã đem tình thương nhân loại san sẻ với dân tộc nầy. Người da trắng muôn đời đã tự phụ về lòng nhân hậu qua câu truyền tụng "Hãy làm những điều tốt cho kẻ khác như mình muốn kẻ khác làm cho mình". Phải chăng đó là một lạm dụng ! Lão chỉ cầu xin rằng người da trắng : "Hãy ráng làm những điều ít khổ đau cho kẻ khác" mà thôi. Vì sao người da trắng không để cho sắc tộc lão sống với bản chất thiên nhiên ? Vì sao người da trắng cứ nằng nặc tình nguyện đi chăm nom săn sóc giúp đỡ các sắc tộc khác, và khi kết quả không được như sở đắc vạch sẵn thì lại đâm ra thù hận ? Nhưng dù họ có thù hận thì họ cũng chẳng dám xâm phận sắc tộc của lão, ngoại trừ chiếm cứ đất đai của sắc tộc để phát triển kỹ nghệ và nông sản thôi, riêng lão và nhóm sắc tộc của lão vẫn cứ ngang nhiên tự do thổi kèn, nhảy múa hoặc vẽ mặt mày dữ tợn đi nghênh ngang thì có thằng da trắng nào dám ngăn chặn lão, bằng cớ là du khách vẫn xúm lại chiêm ngưởng lão mà còn được khuyến khích là đằng khác.
Vì sao người da trắng không biết rằng tánh tự tôn tự nhiên của một dân tộc là một đức tánh sinh tồn của dân tộc đó ?, có nghĩa là lòng tự tôn chính là lẽ sống còn của dân tộc đó, tuy rằng sự tự tôn nếu đem rao bán thì chẳng thu được một đồng xu nào để mua bánh ăn đỡ đói. Phổ biến một nền văn minh mới lên một dân tộc đâu phải là chà đạp danh dự và lòng tự tôn của dân tộc đó ! Chỉ khi nào vừa phổ biến nền văn minh mới, vừa đi đập phá cơ sở văn hóa cũ của dân tộc  đó, đốt hết sách vở của họ như chế độ Cọng Sản đã bao lần tác oai tác quái lên dân các nước, thì khi đó mới gọi là chà đạp danh dự và lẽ sống của dân tộc đó mà thôi. Phổ biến văn minh một cách hòa bình thì không phải là hành động thù nghịch như Lão tưởng tượng và nghĩ rằng lão đang sống và chờ đợi sự trả thù của nền văn minh tây phương. Nhưng cho đến nay, lão vẫn chưa thấy có sự trả thù nào cả mà chỉ thấy được họ cấp nhà cửa và tiện nghi miễn phí cho lão thôi, thật là phi lý, ngược lại những gì lão đã hoang tưởng !!
Lão nghĩ rằng việc người da trắng giúp dân tộc khác hòa nhập vào văn minh và văn hoá họ như khuôn đúc là nguyên nhân của hận thù và chiến tranh hôm nay, rồi lão cũng tự hỏi Sự giúp đỡ này sinh ra hận thù và chiến tranh hay sao ? Sao lạ vậy ?, lão chưa hiểu được sự phi lý đang nẩy sinh trong đầu lão ! Phải chăng vì giận hờn cá nhân mà sinh ra mất lý trí ?
Vâng, hôm nay dân tộc lão đã có nhiều thay đổi thực sự. Người dân bản địa Aborigène thay vì có lối viết chữ và vẽ hình trên thành đá trong hang động thì đã được người da trắng dạy cho cách viết trên giấy trắng tinh. Người da trắng đã dạy cho sắc dân nầy biết đọc và biết cách truyền tụng lịch sữ nhân loại đúng như trong sách giáo khoa. Họ đã biết thưởng thức ngắm nghía các minh tinh trên màn ảnh truyền hình xuyên lục địa và không gian. Người da trắng đã dạy cho đám trai gái sắc tộc lão biết ăn bận màu mè sặc sở trong các buổi dạ hội đám đình và nhất là người da trắng đã giúp cho dân tộc lão biết cách thay thế đạo thờ cúng Thổ thần Tổ tiên Ông Bà bằng những tôn giáo mới văn minh hợp với nhu cầu tâm linh của họ hơn.
Rồi dần dà dân tộc lão, nhờ sự phân tích rõ ràng của người da trắng, sẽ hiểu rằng, nếu con người không muốn lụy thuộc vào lối sống của súc vật, rày đây mai đó như thời đại du mục, thì phải cố gắng làm việc. Sự cần cù lao động là chức năng căn bản sản xuất để giải thoát cảnh sống nghèo đói bần hàn. Xưa kia người dân bản địa sống riêng rẻ từng cụm theo huyết tộc còn gọi là dòng tộc (la gens). Trong gia đình chỉ biết trông cậy vào sức lao động của lớp người đàn ông cùng hoạt động trong một lãnh vực. Công việc trong bộ tộc đã chia cắt rõ ràng: săn bắn đành cho đàn ông. bếp núc cho đàn bà. Những người không cùng huyết thống của người cha đều bị xem như thù địch giống theo kiểu kỳ thị nhau của các đàn thú, khác đàn là thù nghịch vậy. Từ đời nầy sang đời nọ mỗi gia đình lập ra mỗi vùng riêng biệt để hợp với nhu cầu sinh hoạt chung nhưng chỉ hạn chế trong cùng một lãnh vực. Vì hạn hẹp cho nên các dụng cụ sản xuất cần thiết cho công việc cũng không thể đa dạng mà chỉ là đặc thù cho từng sinh hoạt của bộ tộc, làm nông thì chỉ cần cái cuốc và lưỡi cày là đủ, săn bắn thì chỉ cần cung tên cũng dễ dàng có thịt để ăn, và do đó xã hội người dân bản địa không thăng tiến được.
Trong các đại học người da trắng đã dạy cho đám trẻ sắc tộc lão những lý thuyết kinh doanh núp sau bình phong tư bản. Họ lấy lý do rằng tư bản là hữu tính của con người, nghĩa là chỗ nào có sự hiện diện con người là có sự thu gom của cải cho riêng mình. Tư bản không phải là chủ nghĩa mà là bản tính tự nhiên của con người. Tư bản không cần phải có lý luận, vì nó không phải là một hệ thống thuần túy duy nhất. mà nó thay đổi tùy theo hoàn cảnh từng cá nhân.
Không nên nhầm lẫn giữa Tư bản và Cộng sản. Tư bản là bản tánh con người, còn Cộng sản là lý luận hướng dẫn ép buộc con người. Do đó, chúng ta có thể nói Cộng sản là một chủ nghĩa do con người đặt ra để ép buộc con người rập theo khuôn khổ: Đó là một lý thuyết được áp đặt.
Người da trắng giải thích rằng một xã hội giàu có và vững mạnh cần có nhiều sản xuất trong nhiều lãnh vực. Muốn vậy, con người phải biết lao động tập thể (travail collectif) để đóng góp tài năng đa dạng hầu nâng cao sản xuất, phải có sự trao đổi dụng cụ sản xuất (moyens đe production) để bước sang những lãnh vực khác và phân chia công việc đồng đều (répartition égalitaire) để nâng cao mức sản xuất.
Những vị giáo sư đến từ Anh quốc đã giải thích khúc chiết rằng xã hội con người cần hội tụ nhiều loại người có năng khiếu khác nhau, cần phải khai thác và tận dụng mọi khả năng để hưởng thành quả đặc thù của họ. Kẻ giàu sang không còn lo lắng lao động sản xuất để nuôi thân thì tâm hồn lại thích thẩm mỹ và âm nhạc cho nên họ bỏ công để sáng tác nghệ thuạt. Kẻ nghèo đói thì thèm thức ăn cho nên chăm chú về chăn nuôi, nông nghiệp và ngư nghiệp vv. Từ đây, sự dị biệt cá nhân tạo nên mọi giá trị thực dụng.
Chính những gía trị thực dụng cá biệt nầy đã làm bàn đạp cho sự lưu chuyển. Chẳng khác nào như du khách tây phương đã đánh giá trị cao về thẩm mỹ văn hoá của chiếc “tủ à tù', dù cho chiếc “tù à tù” đối với dân sắc tộc Aborigène chẳng có mấy giá trị. Trong khi đó, những sản phẩm biến chế từ các xưởng kỹ nghệ của người tây phương lại có giá trị cao đối với các sắc tộc nhược tiểu nghèo đói.
Ý Thức thực dụng của con người nẩy sinh ra sự trao đổi hàng hoá. Tiền bạc thực ra không có giá trị về bản chất . Nhưng khi muốn trao đổi thì người da trắng lấy một vật làm biểu tượng, đó là một loại giấy in sẵn làm phương tiện cho sự lưu chuyển giá trị của sản phẩm, gọi là vốn biểu tượng. Việc nầy chẳng khác nào như 40 ngàn năm trước đây tổ tiên lão đã dùng võ óc sò đủ mầu làm vốn để mua vàng sắt của người nghèo khổ đày công kiếm được từ các hang động giửa núi rừng.
Cú mối lần mua bán, sự trao đổi giữa hai bên phải tìm cách cho vốn bỏ ra ban đầu ngày càng phải lớn hơn. Nếu huê lợi thu được ngày càng thấp hơn số vốn, thì sự trao đổi hàng hóa trở thành vô giá trị. Phá sản !
Từ ngày văn minh người da trắng nhập vào xứ sở nầy, xã hội tù trưởng biến chất, người dân sắc tộc lão, không những chỉ dấn thân vào sản xuất chiếc 'tù à tù', mà còn nhiều dụng cụ trao đổi khác (outils d'échange). Xưa kia tổ tiên lão đã đưa một số nô bộc trung thành lên làm tù trưởng, một thành phần có nhiều quyền thế và đặc lợi, thì nay nhờ của cải và lợi dụng sự tinh xảo của nghệ thuật trao đổi, họ liền nghĩ đến một xã hội nô lệ mới, nghìa là tìm cách gom góp tư lợi qua sức lao động của kẻ khác dưới bất cứ hình thức nào. Lớp tù trưởng trung thành với tổ tiên lão xưa kia, nay tạo thành một giai cấp trung gian xem con người mọi sắc tộc bản địa Úc châu như vật trao đổi không khác gì một dụng cụ. Đây là thời điểm đâm chồi cho một xả hội Úc châu tân tiến.
Người da trắng. nhất là người Anh Cát Lợi, đã có công dạy dỗ cho sắc tộc Aborigène biết thế nào là tư bản. Họ điều nghiên kỹ chính sách tư bản để thành hình một chế độ tư bản. Họ hô hào rằng "con người bình đẳng trước mặt Thượng đế. không một ai có quyền bắt người sắc tộc làm nô lệ". Nhưng họ sẵn sàng dùng tiền của để khiến người dân sắc tộc tự ý bằng lòng bán sức lực lao động cho họ, như vậy là bình đẳng và không hề có sự áp bức ép buộc nào ! Họ sẵn sàng bỏ ra một số vốn để nuôi sống những ai cung cấp cho họ sức lao động. Nói cách khác, trong sức lao động phải kể mọi thực dụng của con người, từ ăn uống vật chất đến nhu cầu tinh thần. Người Anh cát lợi đã bỏ tiền ra mua sức lao động (force de travail), và định giá sức lao động (valeur de la force de travail) cho từng công việc. Sức lao động thì cố định, nhưng giá trị lao động thay đổi, có nghĩa là cùng một nổ lực trong khắc thời gian bỏ ra, nếu người nào tạo thành quả cao thì kẻ đó được họ trả công cao. Bởi lẽ giá trị thành quả lao động đi trước giá trị của mồ hôi đổ ra trong lao động. Một lít mồ hôi của một người phu quét đường không có giá trị bằng một giọt mồ hôi của người kinh doanh ngồi phòng lạnh có năng suất tạo ra hằng ngàn đô la mỗi phút. Giá trị sức lao động là số vốn thu vào sau khi trao đổi hàng hoá đã sản xuất.
Lão tin rằng người da trắng không bao giờ cần phải dạy người Aborigène thay đổi chiếc 'tù à tù' để thổi được âm diệu của nhạc thời trang. Người da trắng cho rằng giá trị của chiếc 'tù à tù ' là 'văn hóa sắc tộc' của người bản địa chứ không phải nằm trong giá trị âm nhạc, vì thế không cần phải sửa đổi để thích nghi với thời đại. Văn hoá là độc đáo cho từng thời đại chứ không phải để thích nghi và biến dạng.
Hơn cả hàng vạn năm dân tộc nầy đã tiếp nối một cuộc sống thanh bình, cả mấy ngàn năm dân tộc nầy đã sống hồn nhiên với chiếc “tù à tù' vì đó là văn hoá bất biến.
Vậy chẳng cần gì phải thay cũ đổi mới. Trong kinh điễn cũng có lời khuyên : "Chẳng ai lấy vải mới mà vá áo cũ, vì miếng vá mới sẽ co lại, khiến áo rách lại càng rách thêm. Người ta cũng không đổ rượu mới vào bầu da cũ, vì như vậy, bầu sẽ bị nứt: rượu chảy ra và bầu cũng hư. Nhưng rượu mới thì đổ vào bầu mới: thế là giữ được cả hai." Vì thế đừng ép buộc thời đại mới phải dùng văn hóa cũ, mà nên thời nào dùng văn hóa của thời đó thì mọi sự đều tốt đẹp. Nhưng thực tế cho thấy có những đồ cổ có giá trị vô song cho nên không thể nào không trân quý và gìn giữ chúng cẩn thận.
Tôi tự nói với chính mình: Văn minh kỹ thuật đả đem đến nhiều tiện ích giải thoát loài người khỏi những cảnh sống khổ sở và man rợ.
Văn minh là cuộc sống hiện tại. Văn minh không thể nào đi lui được. Cũng chỉ vì không thích nghi được với thời đại đang sống nên lắm người nảy sinh sợ hãi cho rằng sự thiếu vắng văn minh cỗ xưa sẽ phá hoại cuộc sống của họ. Có thể nào có cỗ xe thời gian chở những người hoài cổ trở về lại với thời đại của họ không ? Không thể có ! Vì thế, nếu muốn sống theo văn hóa cỗ xưa quen thuộc của mình thì hãy duy trì văn hóa đó ngay trong phạm vi riêng tư của mình thì hẵn sẽ hưởng được nửa cuộc đời của mình trong thoải mái ngay giữa thế giới của nền văn minh cấp tiến bây giờ. Nửa cuộc đời sống thoãi mái theo ý mình là hạnh phúc quá rồi. Trong một ngày, người nào cũng chỉ mất nửa ngày để chung đụng với xã hội không ưa ý, nhưng nửa ngày kia còn lại  thì hoàn toàn thuộc về mình khi mình trở về với mái nhà và gia đình của chính mình sau khi lăn lộn nửa ngày với xã hội bên ngoài đầy khó chịu. Người Anh có câu tục ngữ "My house is my castle" có ý nói căn nhà của chính mình thì mình toàn quyền biến nó thành "lâu đài tình ái" với đủ mọi sở thích thoải mái cho chính mình. Người Aborigène cũng thế họ có thể biến mãnh đất nhỏ của họ thành nơi thích ý. Thay vì căn nhà tân tiến với đầy đủ tiện nghi, thì họ có thể dựng lều da ở sau vườn để đêm đêm ra nằm nhìn sao và tưởng nhớ lại dĩ vãng đầy đấu tranh oai hùng với thiên nhiên và thú rừng. Luyến tiếc hoài cổ là quyền thiêng liêng của mọi người, và nó không hề làm phiền một ai khác ngoại trừ mình nằng nặc buộc người khác phải hoài cổ như mình. Sự sợ hãi mất mát văn hóa không phải là lý do khiến ta có hành động lên án tiêu cực hoặc đòi hỏi quá độ người khác phải thay đổi để mình thụ hưởng…  Thái độ đòi hỏi đó phản ảnh một mức độ độc đoán và ích kỷ bất thường vì không ai có quyền chê bai tập thể và muốn ép buộc họ phải chìu theo sở thích của mình.
Nền văn minh cần phải tiến hóa giống như cọng tóc trên đầu cần phải rụng xuống để cọng tóc khác mọc lên vậy. Loài người không thể níu kéo văn minh khựng lại. Văn minh phải tiến lên mãi để thay đổi với thời gian và không gian. Văn minh bắt con người phải đi theo con đường tiến hóa.
Thì ra người bản địa Aborigène, họ cũng giống như tôi và đồng bào tôi đã bị văn minh thời đại làm cho quên lãng văn hóa Việt nam xinh đẹp và thuần túy trong huyết quản mình ! Tôi không ngần ngại mà xác quyết rằng người Việt nam tại hải ngoại hôm nay không còn giữ được tinh chất văn hóa thuần túy như trước đây. Trái lại, phần đông trong số họ, trước đây khi còn ở Việt nam đã từng tự cho mình là thức giả, nhưng hôm nay ra hải ngoại lại mang chứng bệnh lãng quên, không còn giữ được văn hóa căn bản của người thanh lịch mà lại tiến hóa theo trào lưu xô bồ để làm nhiều điều rất trái quấy. kỳ cục, khác hẵn với phong tục tập quán mà họ đã hấp thụ trong suốt tuổi trưởng thành của họ. Chính họ vô tình hay hữu ý cổ xúy làm gương xấu cho lớp cháu chắt họ.
Đến đây, thiết tưởng tôi muốn tìm một thế đứng. một lối suy tư khác hơn. Đó là việc tôi muốn đi ra ngoài những cuộc cải vã thiếu ý thức của một lớp người đi trước. Dù là đi chậm, nhưng trên bước đầu, tôi cố ý tránh một số chướng ngại vì hiểu lầm, chẳng khác nào những sự hiểu lầm đã từng gây ra nhiều đổ vở từ trong nước ra đến hải ngoại. Mọi hiểu lầm, nếu có, tôi cầu mong sẽ biến dạng thành những âm vang trong núi rừng như chiếc “tù à tù` của người bản địa, hầu cho cuộc đời có thêm sắc thái thanh bình trong mọi văn hoá hoài cỗ hay hoài lai.
Lê Hùng
(còn tiếp)
Qua chiếc 'tù-à-tù' của người bản địa Úc Châu, tôi mong ước những người Việt đang dùng văn chương Việt thì nên tìm cách tu chỉnh lại lối suy tư và phát biểu cẩn thận hơn những người dân Aborigène như tôi vừa mô tả ở trên.