Những đoàn tự vệ Phát Diệm Bùi Chu.
BBT:.- Vì bài quá dài không thích hợp với khuôn khổ hạn hẹp của trang mạng BCT nên chúng tôi xin bỏ bớt đoạn đầu để đi thẳng vào ý chính, mong tác giả thông cảm cho. 
Author: Mũ xanh Nguyễn văn Năm Posted on: 2018-05-18
…………
K hi quân Pháp núp bóng quân Anh trở lại Việt Nam vào ngày 11-10-1945 Ngoại trưởng Anh là Bevin tuyên bố thừa nhận chủ quyền của Pháp ở Ðông Dương. Rồi lại có tin quân Pháp sẽ tới Bắc Việt thay thế quân Trung hoa tước khí giới quân Nhật làm cả nước xôn xao. Trong tình trạng đầy xáo trộn đó, Phát Diệm đã lập lên tổ chức tự vệ võ trang để hỗ trợ giành độc lập và giử xóm làng, nhà thờ, lo an ninh cho dân chúng do Cha Hoàng Huỳnh lãnh đạo có Cha Nguyễn gia Ðệ phụ tá và thầy Trần Thiện điều động tự vệ, sau đến thầy Tiệp, thầy Bốn Trung v.v...
Ðược tin Toà Thánh Roma cử Cha Anselmo Lê hữu Từ làm Giám Mục Phó địa phận Phát Diệm của Ðức Cha Nguyễn bá Tòng, cả địa phận Phát Diệm vui mừng, vì đã biết Cha Từ là một Cha dòng khổ tu Châu Sơn mà có tinh thần ái quốc. Cụ Trương văn Huế đã kể:
"Năm 1944 tôi đến Châu Sơn để tĩnh tâm 10 ngày, ngoài giờ đọc kinh xem lễ và hướng dẫn đường tu đức, Cha Lê hữu Từ đã nhiều lần đề cập đến vấn đề đất nước, bởi Cha biết tôi là kỹ sư Công Chánh và có óc chống Pháp, nên Cha đã hỏi tôi :
- Sao các ông cứ chịu luồn cúi người Pháp mãi ? Sao không hợp nhau cách mạng giải phóng cho dân tộc? Học thức như các ông có nhiều mà.
Tôi thưa cùng Cha rằng :
- Khó lắm, vì những người có tinh thần thực sự chống Pháp rất ít, phần đông là hạng xu nịnh cả.
Cha Từ nói :
- Ít sao các ông không làm? Các ông làm đi tôi giúp sức.


Nhà thờ Phát diệm


Đức cha Lê Hữu Từ
Ngày 1-10-1945 Cha Lê hữu Từ về Phát Diệm ra mắt hàng giáo sĩ và giáo dân. Linh mục Hoàng Quỳnh dẫn đầu một đoàn quân Tự vệ đón mừng và gắn lên ngực Ngài huy hiệu “Giám Mục Việt Minh” giữa sự vổ tay của hàng ngàn người tham dự.
Ngày 29-10-1945 lể tấn phong Ðức Giám Mục Lê hữu Từ, có các phái đoàn của giáo quyền; Ðức Cha Nguyễn bá Tòng, Ðức Cha Hồ ngọc Cẩn, Ðức Cha Ngô đình Thục, các Cha Tổng quản các địa phận. Phái đoàn Phật giáo có Thượng toạ Thích trí Quang, Ðại Ðức Tâm Châu. Lại có phái đoàn chính quyền cầm đầu có Cố vấn tối cao Nguyễn vĩnh Thụy (Bảo Ðại), Võ nguyên Giáp, Phạm văn Ðồng, Nguyễn mạnh Hà, Trần huy Liệu. Trong dịp lễ tấn phong Ðức Cha Lê hữu Từ, hai tổ chức nòng cốt tự vệ Công giáo được thoát thai và hợp thức hoá là Liên Ðoàn Công Giáo Việt Nam và Việt Nam Công Giáo cứu quốc.
1. Liên đoàn Công giáo Việt Nam là tổ chức thuần túy Công giáo nhằm mục đích qui tụ các người công giáo thành khối để sống đạo, truyền đạo với khẩu hiệu Thiên Chúa và Tổ Quốc
2. Việt Nam Công giáo cứu quốc là tổ chức của người Công giáo Việt Nam sinh hoạt trần thế trong lãnh vực quân sự, chính trị. Bởi vậy trong buổi đại hội ngày lễ tấn phong Ðức Cha Lê hữu Từ, cuộc bàn thảo sôI nổi đã diễn ra giữa hai ý kiến
a/ Việt Nam Công giáo cứu quốc độc lập với mặt trận Việt Minh.
b/ Việt Nam Công giáo cứu quốc là thành phần của mặt trận Việt Minh (quan niệm của phái đoàn chính phủ). Thấy gay go Cha Hoàng Quỳnh đưa ý kiến là Việt Nam Công giáo cứu quốc nằm trong mặt trận Việt Minh nhưng liên lạc hàng ngang nghĩa là hoạt động song hành. Ý kiến nầy được đại hội đồng ý và Phạm văn Ðồng thay mặt chính phủ ký nhận. Sau đó một biển người và rừng cờ biểu ngữ chen lẫn các bài ca yêu nước, tiếng hô đồng loạt :
Việt Nam độc lập muôn năm
Dân tộc Việt Nam bất khuất, Giáo hội Công giáo Việt Nam trường tồn .
Tất cả nói lên ý chí quật cường của dân tộc Việt Nam hơn 80 năm bị đô hộ.
Nhưng sau đó thời cuộc bắt đầu biến chuyển nhanh.
Ngày 6-3-1946 Hồ chí Minh đã ký với Pháp hiệp định sơ bộ nhận Việt Nam là quốc gia tự do trong Liên bang Ðông Dương thuộc khối Liên Hiệp Pháp và cho Pháp đóng quân nhiêu nơi ở miền Bắc Việt Nam. Mục đích Hồ chí Minh hoà hoãn với Pháp là để đuổi quân Trung Hoa đi, mong tiêu diệt các đảng phái quốc gia. Ðức Cha Lê hữu Từ phản đối và nói :
- Hồ chí Minh phạm tội tày trời đối với lời tuyên ngôn độc lập mà Hồ chí Minh đọc ngày 2-9-1945 là không chỉ đường cho Pháp mà bây giờ lại công nhận Pháp, vậy chúng ta phải giúp các đảng phái quốc gia .
Lúc đó tại trụ sở Việt Nam Công giáo cứu quốc mà Nguyễn công Chính làm chủ tịch, trụ sở ở số 9 đường Lamblot tức Lý quốc Sư tại Hà Nội bỗng xuất hiện hai nhân vật người Tàu là cán bộ công giáo vận Trung hoa đến từ Diên An (chiến khu của Mao trạch Ðông) được mặt trận Việt Minh cử tới làm cố vấn cho Nguyễn công Chính để tranh đấu cho giáo hội công giáo Việt Nam được tự trị, tách rời khỏi Toà Thánh Vatican Roma. Cha Hoàng Quỳnh và toàn thể Ban chấp hành Việt Nam Công giáo cứu quốc (ngoại trừ Nguyễn công Chính) khẳng định chống lại và vận động xin Ðức Khâm Sứ Drapier ở Huế tâu về Toà Thánh xin cử các Giám Mục Việt Nam lập hàng giáo phẩm toàn quốc Việt Nam. Kết quả đến năm 1960 đã tiến triển chia thành 3 giáo tỉnh là: Giáo tỉnh Hà Nội, Giáo tỉnh Huế và Giáo tỉnh Sàigòn.
Ðứng trước những âm mưu của Việt Minh cộng sản tiếp tục phá hoại công giáo trong việc gọi là tranh đấu cho Giáo hội Công giáo Việt Nam tự trị. Mặt Trận Việt Nam Công giáo cứu quốc trụ sở tại Phát Diệm vẫn liên lạc với Việt Nam Công giáo cứu quốc trụ sở ở Hà Nội của Ngyễn công Chính, cốt để giữ tính cách hợp thức hoá, để tổ chức các lớp huấn luyện thường xuyên vế quân sự và chính trị như: Trung tâm Phúc Nhạc, Trung tâm Phát Diệm, Trung tâm Mữu Giáp.
Khi Ðức Cha Lê hữu Từ được bổ nhiệm Giám Mục Phát Diệm, Ngài đã dùng vị thế của mình hoạt động cho độc lập của Việt Nam. Ngài đã bàn cùng Ðức Cha Nguyễn bá Tòng, Ðức Cha Hồ ngọc Cẩn, Ðức Cha Ngô đình Thục, là phải nói cho thế giới rõ Việt Nam đã thoát ách nô lệ của Pháp và thâu hồi độc lập.
Kết quả Ðức Cha Nguyễn bá Tòng thay mặt các Giám Mục Việt Nam gởi đến Ðức Giáo Hoàng Pio XII một văn thư xin ủng hộ nước Việt Nam độc lập. Ngay cả khi Hồ chí Minh mời làm cố vấn tối cao của chính phủ sau cựu hoàng Bảo Ðại, Ðức Cha Lê hữu Từ đã nêu điều kiện là: nước Việt Nam phải được độc lập thực sự và xin để Ðức Cha được chịu trách nhiệm an ninh trong khu Phát Diệm là nơi Ðức Cha cư ngụ yên tĩnh, các cán bộ không được tự tiện vào khi không có ý kiến của Ðức Cha. Hồ chí Minh đã chấp thuận như lời Ðức Cha yêu cầu.
Phát Diệm của Ðức Cha Lê hữu Từ cố vấn chính phủ trở thành khu an toàn, có toàn quyền tổ chức cơ sở cần thiết, những nhân viên cán bộ chính quyền không được tự tiện xâm nhập khi không có phép của Toà Giám Mục Cố Vấn. Nhờ khu an toàn này, về sau đã dung nạp được các phần tử quốc gia, giúp tránh khỏi bàn tay độc tài tàn ác của Việt Minh cộng sản và cũng từ đây nhiều chiến dịch chống cộng sản đã được phát động lan tràn tới miền trung và miền đồng bằng Bắc Việt.
Ngày 18-9-1946 Bảo Ðại tuyên bố với quốc dân rằng :
- Tôi đã từ ngôi báu vì hạnh phúc của Dân, nay nếu Dân lại muốn vời tôi ra giúp việc điều đình với Pháp, thì cũng sẵn sàng đòi độc lập và thống nhất cho hợp với nguyện vọng chung.
Tháng 12 năm 1946 quân Pháp tiến ra Bắc Việt chiếm Hải Phòng, Hà Nội ... Hồ chí Minh và các cán bộ cao cấp Việt Minh chạy bán sống bán chết, tuyên truyền tản cư tiêu thổ kháng chiến và nói rằng: hể chạy được là thắng lợi vì đã bảo toàn được lực lượng.
Ðức Cha Lê hữu Từ đã phản kháng kịch liệt chính sách tiêu thổ tản cư này và kêu gọi toàn dân cương quyết ở tại chổ để chống giặc giữ nước. Người dân không phân biệt tôn giáo hưởng ứng nồng nhiệt. Bởi vậy sau này khi bộ đội Việt Minh kéo đến đóng nhà dân, thì Tự Vệ cũng đến đóng, gọi là để hợp tác chống Pháp giành độc lập, nên dân cũng lên tinh thần cùng ở lại nhà để cùng canh giữ xóm làng chống giặc. Nhờ vậy miền Bùi Chu và Phát Diệm không bị tàn phá
Ðức Cha Lê hữu Từ cũng đã nhờ Cha Hoàng Quỳnh đi liên lạc cổ động Phật Giáo Kim sơn lập Phật giáo cứu quốc mà trụ sở tại chùa Ðồng xã Ðồng Ðức Kim Sơn.
Khi đó đã đưa vấn đề cần võ trang các đơn vị tự vệ công giáo cứu quốc ở Phát Diệm và các Xứ Ðạo, để hỗ trợ chống Pháp giành độc lập cho tổ quốc và chống cộng sản nữa, nên đã có nhiều hưởng ứng.
A/ Trước tiên Ðức Giám Mục Gomez người Tây ban Nha Giám Mục địa phận Hải Phòng cho Ðức Cha Lê hữu Từ một triệu bạc Ðông Dương để mua số súng đạn ở Trà Cổ mà quân Trung Hoa tước của quân Nhật để võ trang cho các lực lượng tự vệ công giáo Phát Diệm.
B/ Kế đến ông Trần thanh Ðình và Tống văn Dung thuộc Chi- bộ Duy Dân ở Bùi Chu nói: có đủ tài trợ ba triệu bạc Ðông Dương mua vũ khí cho Tự vệ công giáo Phát Diệm.
Ngày 5-9-1947 ông Tống văn Dung và Lê văn Chính mang một bịch chứa ba triệu bạc Ðông Dương từ Hoà lạc xuống Phát Diệm, khi qua đốn công an Trì Chính cầu Kiến Thái, ông Chính mang bị tiền đi trước, ông Dung đội mũ trắng đi sau, công an Việt Minh nhảy ra chĩa súng hô to:
- Anh đội mũ trắng đứng lại, nếu không tôi bắn.
Nghe thấy vậy ông Chính bước nhanh mang bị tiền thoát được sang phố Thượng Kiệm, ông Dung bị công an Việt Minh bắt giữ. Lập tức ông Chính trình sự việc cùng Ðức Cha Lê hữu Từ. Ðức Cha viết thư cho liên lạc cầm sang Ty công an yêu cấu Trưởng ty công an tới gặp Cha cố vấn chính phủ và trả tự do cho ông Dung, Ðức Cha xác nhận đã sai ông Tống văn Dung đi công tác. Ty công an trả lời Ðức Cha là Trưởng Ty Nguyễn kiên Ðạt đi vắng và vì ông Dung mang giấy tờ tên là Lê văn Cương bị bắt giữ vì có báo cáo y là đảng viên Duy Dân hoạt động chống chính phủ tại xã Hoà Lạc.
Toàn thể các các đơn vị chiến đấu của Tổng bộ Tự vệ công giáo cứu quốc được lệnh báo động và sẵn sàng chiến đấu cứu ông Tống văn Dung. Hai đơn vị Tự vệ công giáo cứu quốc của Vinh Trung và Hoà Lạc được lệnh chuẩn bị đánh úp công an ngay trong đêm .Nhưng tối khuya Toà Giám Mục được thơ của Trưởng ty công an Nguyễn kiên Ðạt hứa sẽ trả tự do cho ông Dung sáng sớm hôm sau, nên việc đánh úp công an hoãn lại. Ðến 6 giờ sáng công an áp giải ông Dung bằng ca nô rời bến Thượng Kiệm lên Ninh Bình. Khi ca nô chạy trên sông Vạc tới đường Hồng Ðức tức bến đò Lá cách Phát Diệm 10 cây số thì đúng lúc Tự vệ Vinh Trung cũng tới và ra lệnh ca nô phải ghé vào bờ. Anh Xuân báo cáo đã trông thấy ông Dung bị còng hai tay và hai công an dìu ông Dung ra mũi ca nô và đẩy ông Dung xuống sông, đoạn công an bắn nhiều loạt súng và hô:
- Tên Việt gian nhảy xuống sông
Tự vệ Vinh Trung liền dàn ra hy vọng ông Trung bơi lội được vào bờ. Hai tên công an Việt Minh ghé ca nô vào bờ đò Lá, lấy một thuyền mùng bơi dọc sông cố bắt ông Dung lại, nhưng kết cuộc hai công an này bị Tự vệ Vinh Trung bắt, một tên công an khai khi ông Dung nhảy xuống sông hai tay bị còng ra đàng sau, khó lòng bơi được vào bờ. Tự vệ Vinh Trung tiếp tục tìm và sau rà thấy xác ông Dung nổi lên, được dìu đưa vào đầu cầu Trì Chính. Tin được loan truyền rất nhanh, daân chúng Phát Diệm phẫn uất về hành động dã man của công an Việt Minh.
Sau khi vớt xác ông Dung lên tạm quàn tại đầu cầu Trì Chính, được y sĩ bệnh viện Trì Chính khán nghiệm, tẩn liệm và quàn tại điếm canh Phú Vinh để làm lễ quốc táng.
Tổng bộ tự vệ công giáo cứu quốc được trao trách nhiệm cổ động quần chúng mọi nơi tham dự lễ an táng cho đông, vì là dịp để tỏ lòng căm phẫn của toàn dân phản đối chính sách tàn ác của Việt Minh cộng sản. Ðội thanh niên tiền phong Phát Diệm phụ trách làm các biểu ngữ với các khẩu hiệu khích động tinh thần dân chúng như :
* Trưởng ty công an cộng sản Nguyễn kiên Ðạt phải đền mạng
* Công an tàn ác và dã man đã giết cán bộ công giáo Tống văn Dung
* Ðả đảo cộng sản vô thần
* Vạn tuế Ðức Cha Lê hữu Từ
* Việt Nam độc lập muôn năm
Chỉ trong một đêm hằng trăm biểu ngữ đã được chăng qua đường phố và hàng ngàn biểu ngữ cầm tay đã được thực hiện và phát cho dân chúng. Ngay từ sáng sớm ngày 8-9-1947 ước lượng 50 ngàn dân chúng gồm đủ mọi thành phần nam phụ lão ấu, dân Công giáo cũng như dân Phật giáo ùn ùn kéo nhau về Phát Diệm diễn hành trước linh cữu của Tống văn Dung đặt ngay tại ngã ba đường trước chợ Phú Vinh, hàng vạn nắm tay giơ cao miệng hô:
- Ðả đảo cộng sản, đả đảo công an Ðạt giết dân lành, vạn tuế Ðức Cha cố vấn.
Các đường phố thị xã Phát Diệm đầy nghẹt người, không khí hết sức ngột ngạt.
Lúc 3 giờ chiều Ðức Cha Lê hữu Từ cố vấn cùng đoàn tùy tùng gồm các Linh mục, các thầy nhà trường Lý Ðoán Thượng kiệm và các đoàn thể tới địa điểm hành lễ an táng. Về phía chính phủ có cụ Ngô tử Hạ Thứ trưởng Thương binh đại diện Hồ chí Minh, ông Nguyễn ngọc Ái phủ bộ Việt Minh đại diện chủ tịch ủy ban hành kháng chiến tỉnh Ninh Bình, ông Nguyễn văn Hoàn trưởng vệ quốc quân và ông Nguyễn cao Ðàm phó chủ tịch hành kháng chiến Kim Sơn. Ðang khi Ðức Cha mặc phẩm phục hành lễ ngồi đợi dân chúng diễn hành trước linh cữu; một liên lạc viên báo cho Cha Ðoàn độc Thư biết có cuộc xô xát giữa công an và đoàn biểu tình trưóc ty công an đầu cầu Kiến Thái. Cha Thư trình Ðức Cha Lê hữu Từ và Ðức Cha bảo Cha Thư đi xem sự việc.
Khi Cha Thư đến cầu Trì Chính, Cha hô lời yêu cầu:
- Cho tôi nói chuyện với Ðại Ðội Trưởng Vệ quốc quân.
Cha Thư lại tuyên bố:
- Tự vệ Công giáo không đánh nhau với Vệ quốc quân, yêu cầu Vệ quốc quân hợp tác với nhân dân trừng trị công an sát hại dân lành.
Viên đại đội trưởng Vệ quốc quân yêu cầu Cha Thư ra lệnh dân chúng giải tán biểu tình.
Cha Thư ra lệnh dân chúng đang bao vây rút ra xa ở phía chợ Cói. Ðoạn Cha Thư đến bệnh viện Trì Chính thì được biết cuộc đụng độ ở ty công an đã chấm dứt vì công an Việt Minh sợ đã bỏ trốn hết.
Trở lại khu vực hành lễ, tới cầu Trì Chính, Cha Thư thấy cảnh hỗn độn diễn ra giữa phố Thượng Kiệm nên ra lệnh anh em xử bắn tại chổ những kẻ gây rối hay cướp bóc và lệnh dân biểu tình lánh vào trong các nhà dân chúng hay các đường hẻm. Thị xã đặt trong tình trạng thiết quân luật và loan truyền khắp nơi rằng : khi thấy Vệ quốc quân xuống phố giữ trật tự thì hô to:
- Hoan hô Vệ quốc quân. Ðả đảo Cộng Sản.
Cha Thư biết chắc vệ quốc quân trên đường vản hồi trật tự, Cha đến nhà cụ Ngô Tử Hạ nhờ báo cho Vũ Ðình Huỳnh là bí thư Hồ chí Minh biết các sự việc xảy ra tại Phát Diệm. Vũ đình Huỳnh nghe nói dân chúng hoan hô vệ quốc quân và đả đảo công an thì rất cảm động. Ngay sáng sớm, Vũ đình Huỳnh đã báo cáo lên Hồ chí Minh tường tận mọi việc tại Phát Diệm.
Tại nơi hành lễ an táng, linh cữu ông Tống văn Dung vẫn còn nằm đó, anh em tự vệ Vinh Trung canh gác. Khi Cha Ðoàn độc Thư vừa bước lên diễn đàn để đọc điếu văn, một phát súng bí mật phát ra, viên đạn ghim vào tường, gạch rơi xuống ngay gần chân Ðức Cha Lê hữu Từ. Tin Ðức Cha cố vấn bị mưu sát loan ra, dân chúng bắt đầu náo động, cuộc lễ an táng phải ngưng lại và đội tự vệ được lệnh bảo vệ Ðức Cha, cụ Ngô tử Hạ, ông Nguyễn ngọc Ái, Nguyễn văn Hoàn .v.v.. trở về toà giám mục. Trên đường về toà giám mục, Ðức Cha khoác tay cụ Hạ, tay trái là ông Hoàn, ông Ái thì cặp tay cụ Hạ. Khi đi qua trụ sở Ủy ban kháng chiến Kim Sơn, ông Ái định vùng chạy vào trụ sở này, nhưng bị dân chúng cản lại, đành bám lấy cụ Hạ. Ðến khu an toàn phải đi qua cổng rào làng kháng chiến trước nhà cụ Hội Ngọc, cổng này rộng đủ ba người đi qua nên ông Ái bị lọt lại, liền bị cụ trùm Nhật lôi cổ quật tên Ái nhào xuống đất, dân chúng phẫn nộ nhào đến đánh, cuối cùng thanh toán bằng phát súng lục. Cha Thư đến thấy tên Ái bị nhiều vết thương nên cho chở sang nhà thương các bà Dòng Ðức Bà Truyền Giáo băng bó cẩn thận nhưng tên Ái đã trút hơi thở cuối cùng. Sáng ngày 9 tháng 9 năm 1947, Việt Minh cử một một số đoàn viên của nghiệp đoàn xe kéo, anh Ninh (biệt hiệu Ninh rỗ) lãnh đạo đến nhà thương Phú Vinh lãnh xác tên Ái đưa về Huyện Yên Mô tổ chức chôn cất.
Ðức Cha Cố vấn chính phủ viết một văn thư và cụ Ngô tử Hạ Thứ Trưởng Thương Binh cùng ông Nguyễn văn Hoàn Trưởng vệ quốc quân Kim Sơn đồng ký tường trình về việc xảy ra chiều ngày 8 tháng 9 năm 1947 cho Hồ chí Minh như sau:
“Nhân đồng bào Lê văn Cương tức Dung bị công an Kim Sơn bắt giải đi Ninh Bình rồi sau thấy xác nổi trên sông Vạc, đồng bào địa phương xin làm lễ an táng. Lúc 3 giờ chiều ngày 8 tháng 9 năm 1947 có cụ Ngô tử Hạ Thứ Trưởng Thương Binh, ông Nguyễn ngọc Ái chủ tịch phủ bộ Việt Minh Kim Sơn và ông Nguyễn văn Hoàn Trưởng vệ quốc quân Kim Sơn, chúng tôi ra chợ Phú Vinh nơi để xác ông Cương, vì các đoàn thể từ hai mạn Ðông Tây về rất đông. Khi chúng tôi ở gần xác ông Cương ở trạm Phú Vinh sắp sửa bắt đầu buổi lễ thì đột nhiên nghe súng nổ, dân chúng hốt hoảng xô nhau chạy, rồi súng bắn liên tiếp và một viên đạn rớt gần ngay chân tôi. Chúng tôi vội đứng lên tạm trú vào điếm sở, vì thấy dân sôi nổi quá, nên Linh mục Ðoàn độc Thư thừa ý tôi cho tự vệ bảo vệ cho tôi, cụ Ngô tử Hạ, ông Nguyễn ngọc Ái, ông Nguyễn văn Hoàn, ông Phạm văn Kim và Trần văn Tuyển. Chỉ huy tự vệ liền hô to với dân chúng rằng
- Thừa lệnh Ðức Giám Mục, anh em tự vệ và dân chúng phải bảo vệ cụ Thứ Trưởng, ông Ái và ông Hoàn.
Thế rồi chúng tôi về mạn Nhà Chung. Tôi đi trước, cụ Ngô tử Hạ khoác tay ông Ái và ông Hoàn đi sau, tất cả đi rất vội vả. Ði được một quãng, ông Ái vùng vằng giằng tay ra lùi lại gần trụ sở ủy ban hành kháng Kim Sơn. Vì tình thế quá nguy nên chúng tôi mạnh ai nấy bước và đến Nhà Chung bình an. Chúng tôi không thấy ông Ái, được biết trong khi ông Ái lùi lại bị dân chúng quá phẫn uất về việc định ám hại tôi, nên xông vào đánh ông Ái, vì vết thương. quá nặng nên ông Ái đã tắt thở tại nhà thương Phú Vinh ngay lúc tối. Nhờ bộ đội cảnh vệ giữ được trật tự nên tình hình trở lại yên ổn rất mau.
Trong khi chờ mở cuộc điều tra, chúng tôi mong rằng thượng cấp hết sức khôn khéo để nhân dân trở lại yên tỉnh và không có gì làm dân tình phẫn uất.
Hồ chí Minh biết tiếng nói của các hàng giáo phẩm và dân chúng công giáo rất có ảnh hưởng tới dư luận quốc tế, nên Hồ chí Minh mềm dẻo trong lúc này, Trưởng Ty công an Nguyễn kiên Ðạt bị hạ tầng công tác đổi đi nơi khác. Hồ chí Minh gởi văn thư về cho cơ quan hành kháng chiến tỉnh Ninh Bình truyền: không được đụng chạm đến Phát Diệm. Sau đó lại gởi phái đoàn đến Phát Diệm trấn an Ðức Cha Lê hữu Từ và dân chúng. Khu an toàn Phát Diệm được công nhận.
Nhưng sau cuộc họp của Pháp và Việt Nam tại Fontainebleau tan vỡ, Hồ chí Minh lại đến nhà riêng của Ngoại Trưởng Pháp là Marius Moulet và ký một hiệp ước Modus Vivendi theo đó Việt Nam là quốc gia trong Liên Bang Ðông Dương trong khối Liên Hiệp Pháp, rồi trở về Việt Nam.
Ngày 24 tháng 10 năm 1946 Hồ chí Minh tiếp Ðức Cha Lê hữu Từ tại Bắc Bộ Phủ Hà Nội. Khi gặp mặt Hồ chí Minh, Ðức Cha với tấm lòng yêu nước thiết tha đã thẳng thắn ngỏ lời :
- Thưa cụ, nổi uất hận của tôi về Hiệp Ðịnh Sơ Bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946 chưa nguôi, thì nay cụ lại ký thêm thoả ước Modus Vivendi, nội dung của nó không hơn gì hiệp định sơ bộ, nên tôi ước gì tầu Dumont d’urville đắm dọc đường để cụ đừng về đến đất Việt Nam này nữa. Hơn nữa tôi nhận thấy nhân dân trong nước cũng uất hận rất nhiều, nếu chính phủ còn tái lầm lỗi, chính tôi sẽ huy động dân chúng đứng lên phản đối.
Hồ chí Minh nói:
- Thưa cụ, như lần trước tôi đã nói với cụ cái thế của mình là phải bò mà đi đến độc lập, xin cụ cứ tin tôi lần nữa
Ðức Cha Lê hữu Từ trả lời:
- Tôi có thể tin cụ một lần nữa. Còn việc các Ðoàn thể và Ðảng phái Quốc gia bị chính phủ tiêu diệt thì cụ nghĩ sao?
Hồ chí Minh nói:
- Tôi mới ở Pháp về nên chưa rõ các việc ấy, xin cụ cứ yên chí, tôi sẽ thu xếp.
Tuy Hồ chí Minh nói sẽ thu xếp nhưng chỉ ít ngày sau Việt Minh đã bắt đầu loại trừ các phần tử quốc gia trong chính phủ bằng một cuộc cải tổ.
Ngày 26 tháng 10 năm 1946 Quốc hội họp tại Nhà Hát Lớn Hà Nội khoảng 50 Nghị Sĩ, các Ðảng phái vắng mặt như ông Nguyễn hải Thần, Nguyễn tường Tam, Vũ hồng Khanh, Trương đình Trí.
Ngày 13 tháng 11 năm 1946 Hồ chí Minh đã tuyên bố cải tổ chính phủ gồm số Bộ Trưởng gốc cộng sản là Võ nguyên Giáp, Phạm văn Ðồng, Nguyễn văn Tạo, Hoàng minh Giám v.v... Những lãnh tụ cộng sản cốt cán như Trường Chinh tức Ðặng xuân Khu, Hoàng quốc Việt tức Hà bá Cang, Nguyễn lương Bằng, Trần huy Liệu vẫn nắm giữ những vai then chốt trong hậu trường chính trị.
Sau khi cải tổ chính phủ để loại bỏ các phần tử quốc gia, các Ðảng phái lớp bị Việt Minh cộng sản đàn áp giam cầm, lớp chạy sang Trung Hoa lánh nạn, lớp rút lui vào hoạt động bí mật. Nhưng riêng Việt Nam công giáo cứu quốc là thời gian phát triển mạnh cho những hoạt động độc lập trong giới hạn của luật pháp quốc gia biến Phát Diệm là nơi nương tựa vững chắc cho các hoạt động chống cộng sản vô thần, nên các cơ sở Việt Nam công giáo cứu quốc được thiết lập lấy Giáo xứ làm đơn vị hạ tầng, Hạt làm đơn vị trung và cơ quan chỉ huy tối cao là Tổng Bộ tự vệ đặt tại Phát Diệm.
Năm 1949 quân Pháp nhảy dù xuống Phát Diệm có cựu Trung Tướng Nguyễn văn Vỹ hồi đó là Ðại Úy nhảy theo đem thư của Quốc Trưởng Bảo Ðại viết cho Ðức Cha Lê hữu Từ giáo phận Phát Diệm, cho tạm quyền lập một khu tự trị gồm Bùi Chu và Phát Diệm.
Nhưng đến năm 1951, theo lệnh của Thủ Tướng Trẩn trọng Kim; Phát Diệm phải sát nhập vào Bắc Phần, công nhận Phát Diệm chính thức thành tỉnh Phát Diệm, lúc đó tự vệ giải tán hết, giao quyền giữ an ninh lại cho Tiểu Ðoàn Bảo An Ðoàn và Tiểu Ðoàn 18 Chính Quy Việt Nam. Sau đó dần dần mất an ninh, không còn ổn định được như trước nữa.
 
Tự vệ Bùi Chu
Năm 1945 lúc đó tôi còn có tên là Nguyễn đình Tú đang coi nhà giáo Hoành Ðông xứ Lạc Thành huyện Giao Thủy thuộc địa phận Bùi Chu.. Thời gian đó tôi đã cùng dân chúng nô nức độc lập, bấy giờ chủ tịch huyện Giao Thủy tên là Lầm và ủy viên chính trị huyện tên là Tiếu mời tôi làm cố vấn cho huyện. Hai tên nầy thông báo với Hồ chí Minh. Hồ chí Minh truyền đưa tôi lên Hà Nội gặp và họp cùng các cán bộ cao cấp gọi là lớp cán bộ “vì dân”, rồi lưu giữ tôi lại một tuần lễ. Hằng ngày Hồ chí Minh gặp riêng tôi nói về cộng sản, ca tụng cộng sản là tốt nhất, bởi cộng sản xoá hết mọi bất công, không còn người nào giàu, người nào nghèo, mọi người đều đồng nhau, mọi của cải là của chung, mọi người đều được tự do hưởng vui thú, không còn bị ràng buộc bởi tín ngưởng hay gì khác, tiến đến thế giới đại đồng mọi dân tộc đều là anh em, không còn chiến tranh.
Sao đó mỗi tháng chủ tịch Lầm đưa tôi lên Hà Nội gặp Hồ chí Minh ba ngày. Hồ chí Minh cố thuyết phục tôi với mục đích để tôi đứng ra lập công giáo quốc doanh cho hắn, vì hắn nhận biết lúc đó tôi có uy tín trong Ðịa phận Bùi Chu.
Hồ chí Minh đã nói với tôi:
- Anh sẽ làm đầu công giáo Việt Nam.
Tôi thắc mắc:
- Tôi chưa làm đến chức Linh Mục thì làm sao tôi làm đầu công giáo Việt Nam được?
Hồ chí Minh giải thích:
- Không cần phải là Linh Mục, Giám Mục nhưng cũng làm đầu công giáo Việt Nam trong chính phủ được.
Tôi vẫn hỏi tiếp:
- Sao không là Ðức Cha Lê hữu Từ cố vấn chính phủ người có uy tín là đầu công giáo Việt Nam?
Hồ chí Minh trả lời:
- Ðức Cha còn bận Ðịa Phận không lo cho cả nước được.
Hồ chi` Minh cố thuyết phục tôi:
- Cộng sản là tốt nhất, phải tồn tại, do đó phải diệt hết những kẻ chống đối, thà giết lầm còn hơn bỏ sót.
Có lần tôi hỏi Phạm văn Ðồng:
- Nếu giết hết người Việt Nam thì sao?
Phạm văn Ðồng trả lời:
- Thì đã có Việt Nam mới.
- Việt Nam mới là ai? Tôi hỏi tiếp.
- Ðó là những người ở Tiệp Khắc, Ba Lan, Hung gia Lợi.v.v... đến đây ở là Việt Nam mới.
Ðến đây tôi đã thấu rõ Hồ chí Minh là cộng sản, chỉ chủ trương hoạt động cho Cộng Sản Quốc Tế chứ không vì Tổ Quốc dân tộc. Chủ thuyết cộng sản là không gia đình, không tổ quốc, không tôn giáo. Cộng sản cho tôn giáo là dị đoan, mê hoặc con người, cần phải tận diệt để tiến đến Thế Giới Ðại Ðồng.
Sau khi chúng nắm được chính quyền, chúng đã giết rất nhiều người quốc gia chân chính, đấu tố dã man giết hại các người giàu và các kỳ lão có uy tín trong dân làng. Bắt con đấu tố cha mẹ, phá bỏ mọi tục lệ tốt trong làng, giết các người trí thức. Hằng ngày chúng bắt mọi người phải học tập về cộng sản và phải phát biểu ý kiến, chúng luôn dùng khủng bố bắt những người không đồng ý kiến, bịt mắt dẫn đi thủ tiêu, giao rắc kinh hoàng trong dân chúng.
Bởi vậy tôi đã đi nói cho các đoàn thể công giáo tiến hành biết rõ chủ thuyết của cộng sản, nên vùng Bùi Chu đã tích cực chống cộng sản.
Năm 1946 đã tổ chức Trại Thủ Lãnh Thanh Niên Công Giáo mang tên trại Hồ ngọc Cẩn họp tại Quãn Phương, quy tụ hơn một ngàn thanh niên để huấn luyện chuẩn bị tư tưởng để đối phó với làn sóng vô thần của cộng sản. Các thanh niên ưu tú được huấn luyện này đã trở thành những cán bộ của Phong Trào Cứu Quốc từ năm 1946 đến năm 1948 và Phong Trào Tự Vệ từ năm 1949 đến 1951.
Kế tiếp Trại Sao Biển đã tổ chức tại Cồn Tròn mười ngày, từng ngàn được huấn luyện tạo một tinh thần thấu rõ quyền công dân và trách nhiệm của thanh niên công giáo trước thời cuộc mới của đất nước.


Nha thờ Bùi chu


Đức cha Phạm Ngọc Chi
Khi chúng biết tôi không chịu theo chúng và ngấm ngầm tuyên truyền chống chúng, chúng đã ra lệnh bắt tôi từ năm 1946, tôi có chân tay liền chúng báo cho tôi biết nên chúng không bắt được tôi. Tôi trình Ðức Cha và xin đổi đi nơi khác. Ðức Cha Hồ ngọc Cẩn cho tôi đi coi nhà Giáo Quần Lợi thuộc xứ Thức Hoá, sau bọn chúng cũng dò la ra, tôi đi hợp tác với Cha Trần đình Thủ là Cha sáng lập dòng Ðồng Công. Tôi xuống Gót Chàng thuộc xứ Cồn Tròn để lập trụ sở cho dòng Ðồng Công. Cùng đi với tôi có Thầy Tiến, Thầy Tín và Thầy Nho phụ tá. Nhưng rồi chúng cũng phát giác được, nên tôi phải giao nơi này cho Thầy Tiến, đoạn tôi vài xứ Ninh Xa thuộc Huyện Hải Hậu coi các đoàn thể công giáo tiến hành.
Khi đó các thanh niên đã đi dự trại Hồ ngọc Cẩn và trại Sao Biển đểu bị theo dõi, nhiều người bị bắt, bị tra tấn dã man. Mặt khác chúng lại trưng thu muối như thời Pháp thuộc và lập thêm hợp tác xã ngư nghiệp để kiểm soát cả hai mạch sống của dân miền bể là muối và tôm cá nên dân miền bể càng căm thù cộng sản hơn, nhiều nơi đã bí mật võ trang tự vệ.
Hồ chí Minh thấy rõ sự căm phẫn của dân chúng công giáo Bùi Chu sẽ bất lợi cho chế độ cộng sản, nên vội xin Ðức Cha Lê hữu Từ cố vấn chính phủ đi giải thích cho dân chúng. Tương kế tựu kế, Ðức Cha đi nhiều nơi hô hào dân chúng tố cáo trừng trị các cán bộ hạ cấp làm sai chính sách của cấp trên. Do đó dân chúng đã tố cáo tại tỉnh lỵ, nhưng không được cứu xét. Dân tại Tang Ðiền đã bắt tên Trần văn Nhợi, cán bộ cao cấp từ Liên Khu 3 được cử về làm Huyện ủy huyện Hải Hậu, chính tên này đã bắt dân phải đem muối vào kho cho chúng và đã ra lệnh bắt nhiều thanh niên đem đi mất tích. Dân phẫn uất đã giết tên Nhợi và buông xuống bể Tang Ðiền. Sau đó nhân dân đủ mọi thành phần các Họ Ðạo miền Văn Lý địa phận Bùi Chu liền rào làng chiến đấu, nhất quyết tự vệ gìn giữ xóm làng khỏi bị cộng sản tự do bắt người như trước. Ròng rã sáu tháng qua các làng Xuân Hà, Xương Ðiền, Văn Lý, Quy Phú, Cồn Tròn, Xuân Thủy, Tang Ðiền, Kiên Chính, Hạ Trại đã kiên trì chiến đấu với bô đội cộng sản. Sau cùng Việt Minh huy động một trung đoàn chính quy về uy hiếp làng Tang Ðiền. Lúc đó thanh niên các làng lân cận đến tiếp ứng làng Tang Ðiền chống trả, nhưng vì vủ khí thô sơ, chỉ có ít súng lấy được của tên Nhợi Huyện ủy và tùy tùng, còn lại chỉ là gươm, giáo mác, gậy gộc và lựu đạn, nên đã phải dùng mưu là lấy các thùng sắt Tây đốt pháo nhét bỏ vào, để nổ kêu ầm. Việt Minh cộng sản tưởng trong làng có nhiều súng nên không dám vào, chỉ thỉnh thoảng cho người vào dọ thám, nhưng người nào vào là mất, là chết. Thanh niên nằm đầy ấp trong các bờ tre và hai bên những đường trong làng đã dùng giáo mác đâm chết các tên do thám. Cầm cự được tuần lễ, tự vệ chờ đêm đến rút lui hết. Ðến sáng Việt Minh thấy im ắng, khi vào được làng thì chỉ còn đàn bà, trẻ con, các đàn ông thanh niên chẳng còn ai.
Sau trận này các thanh niên phải trốn sang Phát Diệm, khu an toàn của Ðức Cha Lê hữu Từ. Lúc đó theo ý kiến của nhiều Cha trong địa phận Bùi Chu thúc dục tôi sang Phát Diệm, để thu tập các thanh niên Bùi Chu chạy sang đó, lập thành đội ngũ, rồi trở về giải phóng Bùi Chu. Tôi sang Phát Diệm và đã thâu nhận được một số thanh niên, nhưng không thấy địa phận Bùi Chu gởi tài chánh sang, nên tôi phải cho các thanh niên này vào tự vệ của Ðức Cha Lê hữu Từ, đoạn tôi lại trở về xứ Ninh Sa địa phận Bùi Chu.
Ðến năm 1949 Pháp nhảy dù xuống Phát Diệm. Tôi lại sang Phát Diệm lần nữa và đã thu thập được các thanh niên Bùi Chu chạy sang đây, lập thành từng Trung Ðội, Ðại Ðội, nhờ Ðức Cha Lê hữu Từ, Cha Hoàng Quỳnh và thầy bốn Trung cho huấn luyện quân sự. Khi đã được 6 đại đội và trang bị vũ khí, Cha Hoàng Quỳnh đặt ông Dương Công chỉ huy đoàn quân giải phóng Bùi Chu. Lúc đó tôi còn ở lại Phát Diệm làm Trưởng Phòng Liên Lạc Bùi Chu Phát Diệm, có thầy Nguyễn văn Lễ phụ tá. Khi đó Cha Hoàng Quỳnh lại giao cho tôi lập Thương Cục Tổng Bộ Tự Vệ Phát Diệm mà tôi làm Giám Ðốc thương cục, có thầy Thuận địa phận Phát Diệm phụ tá, để đánh thuế các hành hoá đem từ Phát Diệm ra bán tại Hải Phòng và Hà Nội, mục đích để có tiền nuôi tự vệ.
Ðoàn quân giải phóng Bùi Chu chia ra làm 3 cánh:
1. Một cánh theo sông Ðáy vào kênh Quần Liêu xâm nhập huyện Nghĩa Hưng, huyện Nam Trực và huyện Trực Ninh.
2. Một cánh theo sông Ðáy lên sông Hồng Hà rồi xuống bến đò Chợ Gà theo sông Ninh Cơ vào Bùi Chu, huyện Xuân Trường
3. Một cánh từ cửa Ðài ra bể vào miền duyên hải, xâm nhập huyện Hải Hậu và huyện Giao Thủy, để giải phóng địa phận Bùi Chu.
Trong khi cánh thứ nhất đang tiến quân giải phóng đến huyện Nam Trực thì ông Dương Công bị trúng đạn và tử thương, Cha Hoàng Quỳnh đặt ông Hùng Phi lên thay và trong vòng 3 tuần lễ đã giải phóng xong địa phận Bùi Chu. Việt Minh cộng sản rút lui vào bí mật. Từ đó toàn vùng địa phận Bùi Chu được yên ổn, đi lại ngày hay đêm không trở ngại.
Năm 1950 Bùi Chu đã lập xong được Tổng Bộ Tự Vệ Bùi Chu do Cha Ðức cai quản Tổng bộ., lập nên Quân Chính Bùi Chu, tách rời Bùi Chu khỏi tỉnh Nam Ðịnh và gọi là tỉnh Bùi Chu. Vị Tỉnh Trưởng đầu tiên của tỉnh Bùi Chu là ông Bùi quang Nga.
Phát Diệm cũng đã tách rời tỉnh Ninh Bình thành tỉnh Phát Diệm mà ông Phan như Lân là Tỉnh Trưởng đầu tiên.
Sau đó tôi thanh toán và trao lại Thương Cục Tổng Bộ Tự Vệ Phát Diệm, đoạn tôi trở về Bủi Chu được giao phó làm Trưởng ban Tài chánh của Quân chính tỉnh Bùi Chu có ông Bùi quang Sơn (em ông Bùi quang Nga) và ông Nguyễn văn Lộc phụ tá đã xuống mở cửa bể Ngọc Lâm thuộc xứ Nghĩa Dục huyện Nghĩa Hưng, đặt trụ sở tại nhà ông Ký Phát. Lại mở cửa bể Gót Chàng thuộc xứ Cồn Tròn huyện Hải Hậu mé Lạch Lác sông Ninh Cơ, trụ sở đặt tại nhà ông Trùm Số, để cho các thuyền bè từ khu Tư (Thanh Hoá, Nghệ An) đưa các sản phẩm như: gỗ, luồng, nứa, nâu, gai.v.v...đến bán, cốt lấy tiền thuế nuôi tự vệ.
Năm 1951, Thủ Tướng Trần trọng Kim bắt Bùi Chu và Phát Diệm phải sát nhập vào Bắc phần và chính thức cộng nhận tỉnh Bùi Chu và tỉnh Phát Diệm.
Tôi thấy sáp nhập như vậy không ổn, vì sáp nhập thì phải giải tán hết tự vệ, chỉ còn giữ lại quân số cho một tiểu đoàn chính quy Việt Nam và một tiểu đoàn Bảo An Ðoàn. Như vậy làm sao quán xuyến được một vùng Bùi Chu rộng lớn như vậy, nên tối đến chắc chắn Việt Minh cộng sản về làng, sẽ uy hiếp dân làng, như vậy Việt cộng sẽ lại chiếm được Bùi Chu. Tôi thưa cùng Ðức Cha Phạm ngọc Chi
- Trong tình trạng như vậy con không thể ở địa phận Bùi Chu được nữa và xin từ biệt Ðức Cha.
Khi đó tôi định lên Hà Nội gia nhập quân đội Quốc Gia Việt Nam mới được thành lập, nhưng chỉ nhận người dưới 30 tuổi. Lúc đó tôi đã 36 tuổi vì tôi sinh năm 1915, mà Bùi Chu chưa có lệnh làm thẻ căn cước, chỉ mới có Phát Diệm làm thẻ căn cước nên tôi đã nói với ông Xứng Trưởng Ty công an Phát Diệm làm cho tôi một thẻ căn cước, rút tuổi xuống thành năm sinh 1924 và đổi tên Nguyễn đình Tú thành tên Nguyễn văn Năm để được vào quân đội và để đánh lạc hướng đối với Việt Cộng.
Sau khi Bùi Chu sáp nhập vàp Bắc phần thì từ năm 1952 trở đi đã chớm nở mất an ninh từ các làng xa Bùi Chu rồi dần dần đến tỉnh lỵ
Bởi vì Hồ chí Minh đem chủ nghĩa cộng sản áp đặt trên dân tộc Việt Nam, nên đất nước thụt lùi, dân chúng phải đói khổ và bị đoạ đày như ngày nay vậy
 
Mũ xanh Nguyễn văn Năm