Ba Cay Truc

  • Tăng kích thước chữ
  • Kích thước chữ mặc định
  • Giảm kích thước chữ
Chào Mừng Bạn Đến Với Trang Báo Điện Tử­ Ba Cây Trúc **** Mọi bài vở và thư từ xin gởi về bacaytruc@gmail.com**** Có hiểu mới biết thương, có thương thì mới trọng, có trọng thì mới biết giữ gìn ****

Kể chuyện trong mơ. 2

Email In

Kể chuyện trong mơ.

Những đoàn người chen nhau đi về phía Nam hả. Họ mang trên ngực chiếc áo màu vàng với logo chữ S màu đỏ, nằm trên hình vuông có cạnh chừng một tấc. Những bước sải dài của họ làm tôi nhớ lại người lính Biệt động quân VNCH xung phong ngoài trận địa. Một thhời người lính BĐQ cho tôi cảm tưởng họ là những “xương đồng da sắt”, chỉ biết tiến chứ không biết lùi. Họ đúng là hình ảnh của tôi trong thời sau cách mạng mùa thu 45.

Tôi nói không ngoa, vì năm 60, tôi đã có lần đi với Thiếu tá Nguyễn Bá Linh, (hiện còn sống tại Yatupa- Cali), tiểu khu trưởng Qui Nhơn, trên một chiếc máy bay Caribou do người Mỹ lái, đang thả dây thép gai cho đồn binh trên ngọn đồi vùng núi quận Bồng Sơn và đã có dịp quan sát cuộc tiến quân của họ. Họ không cần ẫn núp, cắm đầu chạy nhanh về hướng có tiếng súng của địch. Tôi có cảm tưởng họ là những người đóng trong bộ phim The Batman vs Superman. Liều lĩnh. Hào hùng. Gan dạ. Cả bầu trời vang vọng những tiếng “sát, sát” của binh đội nầy làm tôi có cảm tưởng họ cương quyết bảo vệ thanh danh người lính VNCH nói chung và binh chủng BĐQ nói riêng. Cũng từ đây, mỗi lần tôi thấy chữ S là tôi nhớ đến người lính Biệt Động Quân.

Chìm trong cơn ngủ mùa đông, thoảng nghe có tiếng người cãi cọ vọng lại bên tai. Chữ S không phải là Superman mà là hình thể đất nước Việt nam. Nó chạy dài từ Hà nội xuống Saigon, tùy theo phong thổ từng nơi, con người của đất nước nầy có nhiều giọng nói và tập quán khác nhau. Thật vậy người Hà nội thì nói giọng thanh thanh miền Bắc như mấy ả đào du dương trên giường thuốc phiện. Người Huế thì nói giọng Trung, nặng như qủa tạ, với những con trâu hụp lặn trên mãnh đẫt cày lên sỏi đá. Và người Saigon thì nói giọng Nam với cây đàn kìm nhịp theo bài hát vọng cổ như tiếng khóc người Miên mất thành. Có điều đáng qúy là cho dù người miền nào, có khác nhau giọng nói miếng ăn, tất cả họ đều mong muốn nước nhà độc lập.

Tôi nghe lời giải thích mà nhớ lại bài học trong quyển Quốc văn giáo khoa thư lớp Đồng Ấu. Vâng, thầy cô tôi đã dạy: “Nước Việt ta hình chữ S từ Ải Nam Quan đến Mủi Cà Mau”. Lịch sữ đã ghi công trạng các anh hùng, con cháu Lạc long quân từng hy sinh giữ gìn đất tổ. Tôi có cảm tưởng và hy vọng những người mang chữ S đồng hành hôm nay là những người muốn bảo vệ vùng đất này…..

Giữa tiếng lý luận in tai, trong gốc phòng có người to tiếng đặt câu hỏi :

Trên ngực quý vị có hình chữ S, nhưng hành động của quý Vị thì toàn là chữ X, chỉ biết chém giết lẫn nhau. Các ông bà chủ tịch các tổ chức chính trị và quân đội chỉ có “ kế hoạch” đánh đấm VC từ trong nước, chứ chẳng có “kế hoạch” nào khai trừ những tên Việt gian đang sống bên cạnh nhà mình. Có lẽ quý vị nghĩ rằng vì VC nó ở qúa xa nên dễ dàng chưởi rủa hơn là những kẻ sáng tối gặp nhau.Tôi đồng quan điểm và nhớ lại từ ngày tôi đến cư trú trên vùng đất xa lạ với hình chữ S, khi nghĩ đến những mỹ từ “Tổ quốc- Danh dự - Trách nhiệm” mà quân lực VNCH trao cho các đơn vị. Hy vọng tôi càng lớn bao nhiêu thì tôi càng ê chề thất vọng bấy nhiêu. Ừ nhỉ, tháng tư đen sắp đến và tôi đã từng hy vọng suốt cả 40 năm rằng sẽ là ngày hội ngộ trên quê hương. Hơn 40 năm, tôi đã quên mất sức lực ngày đêm ước mong cho Tập Thể Chiến Sĩ VNCH sẽ là những Superman, cùng một lòng diễn giải cho tôi biết kỷ niệm đau thương của họ trong ngày 30 tháng tư đen. Kết qủa tôi và đồng bào tôi thấy gì? Họ đang tập trung tiệc tùng ăn mừng Ngày Hành Trình cho Tự do. Những tiếng chưởi rũa, đâm chém nhau bằng những từ ngữ thô lỗ nhất đều được tận dụng sau buổi nhậu nhẹt. Tệ hơn nữa, là trong đoàn thể mang danh Biệt Động Quân có người đã công khai làm ô uế cho đơn vị mà tôi từng quý trọng. Tôi tự hỏi cho dù “cái tập thể” đó đã nát như tương, nhưng hằng ngày trên các diễn đàn cái đơn vị mang tên “Biệt Động Quân” vẫn luôn luôn tồn tại. Vậy vì lẽ gì mà đoàn người BĐQ cứ để cho một cá nhân làm tổn thương Danh Dự BĐQ. Nói trắng ra là vì sao tổ chức BĐQ không có một kế hoạch khả dĩ chận đứng hành động những tên công khai mang danh BĐQ đánh nát CĐNVTN tại hải ngoại?

Trong cơn mộng du, tôi nhớ câu chuyện vị luật sư kể lại vụ kiện giữa hai người Việt bên Úc. Nguyên đơn thưa bị cáo về tội “cố ý đả thương”. Khi quan toà hỏi ba nhân chứng và cả 3 người làm chứng đã khai rằng họ có thấy cuộc ẩu đả này và chính nguyên đơn là người gây ra. Vin vào lời khai, quan tòa không những không bắt tội bị cáo mà lại còn truyền lệnh bắt nguyên đơn trả mọi chi phí trong vụ kiện.

Tháng Tư! ừ nhỉ, còn bao nhiêu người nhớ? Còn bao nhiều người tưởng niệm? nhưng cũng có rất nhiều người xem ngày 30 thang 4 như một kỷ niệm. Kỷ niệm và tưởng niệm có khác gì nhau? Cùng một chữ niệm, khác chữ “tưởng và kỷ”, có như vậy thôi mà rất nhiều đồng hương đã hùng hổ giành nhau phần đúng với ý nghĩa của nó. Với tôi, 30/4 là dấu mốc thời gian đã để lại cho dân tộc Lạc Việt và nhất là ngừơi dân miền Nam Việt một dư âm đen đũi, đau thương và não lòng

Có ai không mất mác trong và sau ngày đó? Có ai vui và hạnh phúc trên ngày đó? Nếu có chăng cũng chỉ là người tên cán ngố, những tên bộ đội, mà ta có thể gọi là những người từ rừng về châu phố xâm chiếm miền Nam. Họ vui trong sự đau khổ của một nữa dân số Việt Nam. Họ hả hê hành hạ, nhục mà, đầy ải và bức bách một cách dã man lên kiếp sống của từng người dân Việt. Vâng, họ vui! Và đến bây giờ họ vui trên chiến thắng bạo tàn, trên tham tàn ác độc. Và họ vui, vui trên xương máu của đồng bào….

Bây giờ, ngừơi cộng sản vui, đem niềm vui hân hoan trao tặng đến một số người Việt hải ngoại đã một thời bị đàn áp, bị sĩ nhục, bị hành hạ, và cũng chính vì thế mà những người Việt này đã phải trốn chạy, bỏ nước ra đi tìm kiếm tự do bằng đủ mọi cách vượt biên bằng đường biển, vượt biên bằng đường rừng… Vượt biển, băng rừng để tìm cái sống mong manh trong cái chết hiện hữu mà không ai chắc chắn sẽ được bình an, và đến được bến bờ trong hành trình “thí mạng” này. Biết bao nhiêu người đã bỏ mình dưới biển sau, đã bỏ xương khô trong rừng rậm. Cha mất con, vợ mất chồng, anh mất em, người yêu mất nhau, chúng ta mất chúng ta, và chúng ta mất tất cả…. ngày 30/4 là thế! Là những đau thương mất mác, là những tan thương chết chóc luôn chờ đợi, luôn đón chờ chúng ta từng phút giây…. Phải không?

Bây giờ, có bao nhiêu người còn nhớ chuỗi thời gian với con số 30/4 quen thuộc này (?). Không ai khác hơn, những nhạc sĩ như Phạm Duy với ca khúc “cha 54 con 75” rồi cũng hân hoan trở về nơi mà ông họ Phạm từng nguyền rủa thậm tệ bằng lời nhạc. Những Nguyễn Ngọc Ngạn với trên 40 tác phẩm ông lên án cộng sản và đã in thành sách bán chạy và làm giàu trên đồng tiền mồ hôi và nước mắt của đồng hương hải ngoại ưu ái đón nhận. Bây giờ ông quên, bây giờ ông Ngạn đã quên rồi ư? Ong nhận show diễn vui Xuân trong ngày đau thương này, khi mọi người lên tiếng thì ông dùng những ngôn ngữ tinh vi kiến thức để bào chữa, để chống chế cho một lối suy nghĩ và hành động “bất nhẫn”, không những bất nhẫn, bất nhân đối với đồng bào tị nạn hải ngoại mà còn bân nhân bất nghĩa đối với vong linh của người vợ, người con của ông đã chết trên đường vượt biển mà chính cá nhân ông bên cạnh lúc đó phải bó tay, phải vô dụng không thể cứu vợ cứu con được.

Vì đầu nông nỗi này? Vì đâu vợ con ông lìa xa kiếp nhân sinh này, vì hai chữ Tự Do, vì sự dã man, man rợ, tàn nhẫn, độc ác của chế độ cộng sản đã và đang để lại hệ lụy cho dân tộc Việt. Khói hương thắp cho vợ ông, cho con ông chưa ngụi lạnh, chưa tàn tro… thì ông Nguyễn Ngọc Ngạn ơi! Sao ông phải vì miếng cơm dư, tiền thừa và thiết nghĩ trong ngày 30/4/2012 này ông nỡ lòng nào nhận show diễn làm MC, mà ông nói đó là ngày quốc tế lao động, ngày nghĩ long weekend, vì trùng hợp booked show sau mùa đông lạnh lẽo, và những ngày xuân đầu ấm áp, nên ông nhận lời làm chương trình văn nghe Tình Ca Mùa Xuân ở Berlin….

Ông nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn ơi! Ông quên rồi sao ông? Ông quên dân tộc đang đắm chìm khổ lụy dưới chế độ vong nô cộng sản hiện tại đã đành, nhưng ông nỡ lòng quên luôn người vợ, người con của ông đã vì theo ông tìm bên bờ tự do mà bỏ mạng ở biển đông, nơi ấy… nơi bờ biển Mã Lai ấy, có biết bao nhiêu người đã từng trở lại để xây lại nắm mồ, thăm lại hương mộ, thắp từng nén nhan cho đồng hương, đồng bào đã cùng chiến tuyến, đã cùng nằm xuống nơi hoang lạnh xứ người… Nơi đó có hương hồn của vợ ông, con ông, nhưng chưa bao giờ ông trở lại thăm…. Thôi thì, dù sao ông cũng là một nhà văn nổi tiếng, thiết nghĩ chữ nghĩa ông nhiều, hiểu rộng, nhưng tâm hồn ông nay đã khép dần không còn chỗ cho tình người, thì xin đây…. Những bài viết nhỏ của Tiểu Tử, gởi tặng ông, mong có một lần ông đọc đến. Một lần thôi, dù biết chữ nghĩa đối với ông lúc này như đem củi về rừng…

Lời tác giả: Tôi không có đi di tản hồi những ngày cuối tháng tư 1975 nên không biết cảnh di tản ở Sài gòn ra làm sao. Mãi đến sau nầy, khi đã định cư ở Pháp, nhờ xem truyền hình mới biết !

Sau đây là vài cảnh đã làm tôi xúc động, xin kể lại để cùng chia xẻ…

Chuyện 1

Ở bến tàu, thiên hạ bồng bế nhau, tay xách nách mang, kêu réo nhau ầm ĩ, hớt hơ hớt hải chạy về phía chiếc cầu thang dẫn lên bong một chiếc tàu cao nghều nghệu. Cầu thang đầy người, xô đẩy chen lấn nhau, kêu gọi nhau, gây gổ nhau… ồn ào. Trên bong tàu cũng đầy người lố nhố, giành nhau chồm lên be tàu để gọi người nhà còn kẹt dưới bến, miệng la tay quơ ra dấu chỉ trỏ… cũng ồn ào như dòng người trên cầu thang !

Giữa cầu thang, một bà già. Máy quay phim zoom ngay bà nên nhìn thấy rõ : bà mặc quần đen áo túi trắng đầu cột khăn rằn, không mang bao bị gì hết, bà đang bò nặng nhọc lên từng nấc thang. Bà không dáo dác nhìn trước ngó sau hay có cử chi tìm kiếm ai, có nghĩa là bà già đó đi một mình. Phía sau bà thiên hạ dồn lên, bị cản trở nên la ó ! Thấy vậy, một thanh niên tự động lòn lưng dưới người bà già cõng bà lên, xóc vài cái cho thăng bằng rồi trèo tiếp.

Chuyện chỉ có vậy, nhưng sao hình ảnh đó cứ đeo theo tôi từ bao nhiêu năm, để tôi cứ phải thắc mắc : bà già đó sợ gì mà phải đi di tản ? con cháu bà đâu mà để bà đi một mình ? rồi cuộc đời của bà trong chuỗi ngày còn lại trên xứ định cư ra sao ? còn cậu thanh niên đã làm môt cử chỉ đẹp – quá đẹp – bây giờ ở đâu ?... Tôi muốn gởi đến người đó lời cám ơn chân thành của tôi, bởi vì anh ta đã cho tôi thấy cái tình người trên quê hương tôi nó vẫn là như vậy đó, cho dù ở trong một hoàn cảnh xô bồ hỗn loạn như những ngày cuối cùng của tháng tư 1975…

Chuyện 2

Cũng trên chiếc cầu thang dẫn lên tàu, một người đàn ông tay ôm bao đồ to trước ngực, cõng một bà già tóc bạc phếu lất phất bay theo từng cơn gió sông. Bà già ốm nhom, mặc quần đen áo bà ba màu cốt trầu, tay trái ôm cổ người đàn ông, tay mặt cầm cái nón lá. Bà nép má trái lên vai người đàn ông, mặt quay ra ngoài về phía máy quay phim. Nhờ máy zoom vào bà nên nhìn rõ nét mặt rất bình thản của bà, trái ngược hẳn với sự thất thanh sợ hãi ở chung quanh !

Lên gần đến bong tàu, bỗng bà già vuột tay làm rơi cái nón lá. Bà chồm người ra, hốt hoảng nhìn theo cái nón đang lộn qua chao lại trước khi mất hút về phía dưới. Rồi bà bật khóc thảm thiết…

Bà già đó chắc đã quyết định bỏ hết để ra đi, yên chí ra đi, vì bà mang theo một vật mà bà xem là quí giá nhứt, bởi nó quá gần gũi với cuộc đời của bà : cái nón lá ! Đến khi mất nó, có lẽ bà mới cảm nhận được rằng bà thật sự mất tất cả. Cái nón lá đã chứa đựng cả bầu trời quê hương của bà, hỏi sao bà không xót xa đau khổ ? Nghĩ như vậy nên tôi thấy thương bà già đó vô cùng. Tôi hy vọng, về sau trên xứ sở tạm dung, bà mua được một cái nón lá để mỗi lần đội lên bà sống lại với vài ba kỷ niệm nào đó, ở một góc trời nào đó của quê hương…

Chuyện 3

Cũng trên bến tàu nầy. Trong luồng người đi như chạy, một người đàn bà còn trẻ mang hai cái xắc trên vai, tay bồng một đứa nhỏ. Chắc đuối sức nên cô ta quị xuống. Thiên hạ quay đầu nhìn nhưng vẫn hối hả đi qua, còn tránh xa cô ta như tránh một chướng ngại vật nguy hiểm ! Trong sự ồn ào hỗn tạp đó, bỗng nghe tiếng được tiếng mất của người đàn bà vừa khóc la vừa làm cử chỉ cầu cứu. Đứa nhỏ trong tay cô ta ốm nhom, đầu chờ vờ mắt sâu hõm, đang lả người về một bên, tay chân xụi lơ. Người mẹ - chắc là người mẹ, bởi vì chỉ có người mẹ mới ôm đứa con quặt quẹo xấu xí như vậy để cùng đi di tản, và chỉ có người mẹ mới bất chấp cái nhìn bàng quan của thiên hạ mà khóc than thống thiết như vậy - người mẹ đó quýnh quáng ngước nhìn lên luồng người, tiếp tục van lạy cầu khẩn.

Bỗng, có hai thanh niên mang ba lô đi tới, nhìn thấy. Họ dừng lại, khom xuống hỏi. Rồi họ ngồi thụp xuống, một anh rờ đầu rờ tay vạch mắt đứa nhỏ, họ nói gì với nhau rồi nói gì với người đàn bà. Thấy cô ta trao đứa bé cho một anh thanh niên. Anh nầy bồng đứa nhỏ úp vào ngực mình rồi vén áo đưa lưng đứa nhỏ cho anh kia xem. Thằng nhỏ ốm đến nỗi cái xương sống lồi lên một đường dài…

Anh thứ hai đã lấy trong túi ra chai dầu từ lúc nào, bắt đầu thoa dầu rồi cạo gió bằng miếng thẻ bài của quân đội.

Thiên hạ vẫn rần rần hối hả đi qua. Hai thanh niên nhìn về hướng cái cầu thang, có vẻ hốt hoảng. Họ quay qua người đàn bà, nói gì đó rồi đứng lên, bồng đứa nhỏ, vừa chạy về phía cầu thang vừa cạo gió ! Người mẹ cố sức đứng lên, xiêu xiêu muốn quị xuống, vừa khóc vừa đưa tay vẫy về hướng đứa con. Một anh lính Mỹ chợt đi qua, dừng lại nhìn, rồi như hiểu ra, vội vã chạy lại đỡ người mẹ, bồng xóc lên đi nhanh nhanh theo hai chàng thanh niên, cây súng anh mang chéo trên lưng lắc la lắc lư theo từng nhịp bước….

Viết lại chuyện nầy, mặc dù đã hơn ba mươi năm, nhưng tôi vẫn cầu nguyện cho mẹ con thằng nhỏ được tai qua nạn khỏi, cầu nguyện cho hai anh thanh niên có một cuộc sống an vui tương xứng với nghĩa cử cao đẹp mà hai anh đã làm. Và dĩ nhiên, bây giờ, tôi nhìn mấy anh lính Mỹ với cái nhìn có thiện cảm !

Chuyện 4

Cũng trên bến tàu. Cầu thang đã được kéo lên. Trên tàu đầy người, ồn ào. Dưới bến vẫn còn đầy người và cũng ồn ào. Ở dưới nói vói lên, ở trên nói vọng xuống, và vì thấy tàu sắp rời bến nên càng quýnh quáng tranh nhau vừa ra dấu vừa la lớn, mạnh ai nấy la nên không nghe được gì rõ rệt hết !

Máy quay phim zoom vào một người đàn ông đứng tuổi đang hướng lên trên ra dấu nói gì đó. Bên cạnh ông là một thằng nhỏ cỡ chín mười tuổi, nép vào chân của ông, mặt mày ngơ ngác. Một lúc sau, người đàn ông chắp tay hướng lên trên xá xá nhiều lần như van lạy người trên tàu, gương mặt sạm nắng của ông ta có vẻ rất thành khẩn. Bỗng trên tàu thòng xuống một sợi thừng cỡ nửa cườm tay, đầu dây đong đưa. Mấy người bên dưới tranh nhau chụp. Người đàn ông nắm được, mỉm cười sung sướng, vội vã cột ngang eo ếch thằng nhỏ. Xong, ông đưa tay ra dấu cho bên trên. Thằng nhỏ được từ từ kéo lên, tòn ten dọc theo hông tàu. Nó không la không khóc, hai tay nắm chặt sợi dây, ráng nghiêng người qua một bên để cúi đầu nhìn xuống. Người đàn ông ngước nhìn theo, đưa tay ra dấu như muốn nói : « Đi, đi ! Đi, đi ! ». Rồi, mặt ông bỗng nhăn nhúm lại, ông úp mặt vào hai tay khóc ngất ! Bấy giờ, tôi đoán ông ta là cha của thằng nhỏ đang tòn ten trên kia… Không có tiếng còi tàu hụ buồn thê thiết khi lìa bến, nhưng sao tôi cũng nghe ứa nước mắt !

Không biết thằng nhỏ đó – bây giờ cũng đã trên bốn mươi tuổi -- ở đâu ? Cha con nó có gặp lại nhau không ? Nếu nó còn mạnh giỏi, tôi xin Ơn Trên xui khiến cho nó đọc được mấy dòng nầy… (Tiểu Tử)

Tác giả bài viết: Phan Nguyên Luân

Nguồn tin: Vietstaronline.com

Việt Star Tuần Báo là vi phạm bản quyền !!!

Normal 0 false false false FR JA X-NONE /* Style Definitions */ table.MsoNormalTable {mso-style-name:"Table Normal"; mso-tstyle-rowband-size:0; mso-tstyle-colband-size:0; mso-style-noshow:yes; mso-style-priority:99; mso-style-parent:""; mso-padding-alt:0cm 5.4pt 0cm 5.4pt; mso-para-margin:0cm; mso-para-margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:12.0pt; font-family:Cambria; mso-ascii-font-family:Cambria; mso-ascii-theme-font:minor-latin; mso-hansi-font-family:Cambria; mso-hansi-theme-font:minor-latin;}