Ba Cay Truc

Bảng quảng cáo
  • Tăng kích thước chữ
  • Kích thước chữ mặc định
  • Giảm kích thước chữ
Chào Mừng Bạn Đến Với Trang Báo Điện Tử­ Ba Cây Trúc **** Mọi bài vở và thư từ xin gởi về bacaytruc@gmail.com**** Có hiểu mới biết thương, có thương thì mới trọng, có trọng thì mới biết giữ gìn ****

Ký sự đi Úc năm 2004. 2

Email In

Ký sự đi Úc năm 2004.

Tôi đi Úc lần nầy là lấn thứ 7 và cũng là lần khá đặc biệt. Trục trặc đủ thứ. Truớc đây thường mổi lần đi Úc, tôi chỉ cần đến toă Đại sứ Úc tại Bruxelles xin visa d’entrée ít nhất là một năm và có giấy phép ngay. Đến khi qua Úc tôi muốn ở lại bao nhiêu tháng tùy thích, miển đừng quá một năm. Thông thường thì tôi chỉ ở từ 3 tháng đến sáu tháng.

Biện pháp áp dụng cho ngành du lịch từ hàng không đến xe cộ bắt đầu cứng rắn kể từ ngày có nạn khủng bố cuả bọn Hồi giáo cực đoan Bin Laden 11/9/90 làm sụp đỗ hai toà nhà thương mại Trade Center lớn nhứt tại Nữu Ước. Đây là cái cớ để chính quyền TT Bush đưa quân đánh Afghanistan và hạ bệ Tổng thống Hussein cuả Irak. Nạn khủng bố xem như càng ngày càng tăng, nên nhiều biện pháp tại Mỹ và những nước ủng hộ TT Bush trong đó những chiếu khán nhập cãnh trên 3 tháng vào nước Úc phãi được sự chấp thuận cuả toà Tổng lãnh sự Đại sứ quán Úc tại Paris. Toà đại sứ Úc tại Bỉ chỉ nhận tiền chi phí thủ tục và cấp phát biên lai cho những đương đơn tự động đi Paris xin cấp visa. Số tiền nằy không thể hoàn trả nếu đơn xin visa bị toà Tổng lãnh sự Úc tại Paris bác bỏ.

Thực ra lúc nầy không những toà đại sứ Úc mà tất cả các toà đại sứ nước ngoài tại Pháp cũng lo lắng an ninh đề phòng nạn khủng bố, nên mọi phòng giấy cấp visa tại các toà lãnh sự chỉ làm việc vào buổi sáng từ 10 giờ đến 12 giờ. Để tránh tốn kém và phiển hà bạn bè ở Paris, tôi điện thoại cho Nguyễn kim Khánh và yêu cầu Khánh chuẩn bị cho tôi một lộ trình métro để khi đến gare Paris-Nord, tôi vào cho đúng giờ mở cữa cuả toà Đại sứ Úc bên cạnh tháp Eiffel. Tội nghiệp cho Khánh, sáng mai Khánh phải ra hầu toà về vụ kiện người thuê nhà không trả tiền mà cũng không chịu trả nhà. Đây cũng là luật lệ bảo vệ người thuê nhà bày ra dưới thời chế độ socialistes cuả TT. Mittérand. Thì ra bày luật cho người dân ăn cướp cuả nhau! Nhưng Khánh cũng không để tôi phải lo lắng, nên nhờ đứa cháu cùng đi với tôi từ gare du Nord đến toà đại sứ Úc.

Từ hơn năm nay, sự liên lạc giửa Bruxelles và Paris đều bằng tàu có tốc hành cao nhứt. Trên 200km/giờ. Khoảng đường Paris-Bruxelles hành khách chỉ mất 1 giờ 20 phút. Sáng nay, chuyến tàu TGV đến gare du Nord rất đúng giờ. Tại đây Khánh và người cháu đã chờ sẳn để đón tôi. Khánh từ giả để đi hầu toà về vụ người thuê nhà không trả tiền. Khánh dặn người cháu đưa tôi đến toà đại sứ Úc trước giờ mở cữa. Đúng vậy, tôi đến toà đại sứ Úc trước tất cả mọi người.

Đây là toà nhà nằm trên một vị trí rất khang trang. Rất lớn. Cách chân tháp Eiffel khoảng chừng 100 thước. Trong lúc đang chờ phòng giấy mở cữa, toà đại sứ có dành cho khách một phòng rộng có trang bị máy video chiếu quang cảnh và thú vật tại xứ sở Kangourou.

Đúng giờ mở cữa, tôi được mời vào làm thủ tục đầu tiên. Sau khi khám xét mọi giấy tờ cuả tôi, nhất là những bản photocpopie các visa tôi đã vào Úc 6 lấn trước đây, cô thư ký bảo tôi ngồi đợi để nhận ngay visa liền. M ải đến gần 12 giờ trưa, cô thư ký ra báo cho biết trong hồ sơ tôi thiếu giấy chứng nhận ngân hàng tại Bruxelles về số compte cuả cá nhân tôi, nên cô bảo tôi nên trở về Bruxelles và yêu cầu nhà ngân hàng Bruxelles đánh fax cho toà Tổng lãnh sự biết số compte và sau đó trở lại nhận giấy phép. Đến đây tôi mới biết người Pháp sáng nay nói rất đúng: “Với nước Úc và Canada, bất cứ ai có tiền cũng đều vào được hai nước nấy. Theo tôi biết thì trong lịch sữ di trú hoàn cầu, nước Úc và Canada là hai nước đầu tiên có luật lệ buôn bán passe-port nhập nội hợp pháp. Đặc biệt hơn nửa là tại Úc, sau hai năm người nước ngoài có passe port nhập nội và được phép làm ăn hợp pháp, đương nhiên được trở thành dân Úc mà chẳng cần qua một sự « thi cữ» nhập tịch như một số các nước khác

Thực ra trước khi đi Paris lo chuyện visa, thì tôi cũng đã có chương trình đi Pháp để thăm anh Tôn thất Ngạc từ Houston (Texas, Mỹ) sang đây cùng với phái đoàn tăng ni đưa vị Giáo chủ Long Hoa Đệ Nhị Hội tại Houston đi trị bệnh và sau đó tôi đi dự lễ 49 ngày, kỷ niệm anh Phạm văn Anh vừa từ trần.

Tôi biết anh Tôn thất Ngạc lúc anh làm hiệu trường trường trung học công lập và là giáo sư dạy toán đệ nhị cấp Cường đễ ở Qui nhơn, dưới thời kỳ chính phủ Ngô đình Diệm.Anh Ngạc là con người đạo đức nhưng hôm nay tôi thấy khá lạ. Anh là người có gia đình và có nhiều con cái. Anh rất hiền lành, ăn nói rất dịu dàng và rất có lòng tốt đối với mọi người. Nhưng hôm nay, anh từ giả gia đình và đi tu, một lối tu Phật, nhưng không phải là Đại thứa hay Tiểu thừa. Đây là một phái tu rất đặc biệt và tôi mới biết lần đầu.

Sau 30/4/75, anh rời Việt nam sang Mỹ cùng với vị pháp sư Hội chủ lập chuà tại Ha uy di. Vợ con anh cũng vui lòng đồng ý cho anh rờì khỏi nước, nhưng ở lại Saigon với con cái và cũng đi tu theo môn phái nầy. Trong mấy đứa con cuả anh có một người con gái lấy chồng người Pháp đang làm pilote Air France. Cả hai vợ chồng và con cái cũng đi tu theo phái nầy tại Paris. Mọi người trong đoàn tăng ni đều gọi anh Ngạc là Huynh vì anh sẻ là người kế vị đức Giáo chủ Long Hoa Đệ Nhị Hội. Lần gặp anh ở Houston (Texas), anh cũng muốn tôi nhập Đạo, nhưng tôi nghỉ rằng rất khó mà chìu ý anh được. Dù sao tôi cũng rất mến anh trên mọc phương diện.

Cũng thời kỳ nầy tôi làm hiệu trưởng trường tư lập Tân bình Qui nhơn. Trường Tân bình tuy là tư lập nhưng rất khang trang, toạ lạc trên đường Nguyễn Huệ nằm sát ngay bờ biễn cuả thị xả Qui nhơn. Người trong vùng đồn rằng trường nầy cuả đãng Cần lao Nhân vị. Đãng nầy muốn thực hiện chủ trương nâng cao “dân trí”cuả ông Ngô đình Diệm từ ngày về nước nắm chính quyền. Cứ mỗi tĩnh miền Nam Việt nam, nơi nào thiếu trường Trung học thì đãng Cần lao nên vận động xây cất một ngôi trường và lấy tên là Tân bình. Cho đến năm 1963, trong miền Nam Việt nam mới có 2 trường Trung học Tân bình, một ở trong thành nội Huế và một tại thị xã Qui nhơn. Ban đầu trường Tân bình Qui nhơn do anh Nguyễn hữu Chĩnh đứng tên làm Hiệu trưởng và ngày khai giảng niên khoá đầu tiên lại được ông Cố vấn chính trị Ngô đình Nhu thay mặt Tổng thống Ngô đình Diệm đích thân khánh thành. Sau hai niên khoá, trường nầy trao cho Tĩnh bộ Qui-nhơn trực tiếp quản trị. Có lẻ vì không ai đứng ra trách nhiệm điều khiển trực tiếp, nên tôi được mời ra nhận trường nầy.

Nói về trường nấy là một giai thoại “ân oán” về chính trị, mà tôi là vật tế thần sau khi các tướng lãnh quân đội miền Nam được người Mỹ mua chuộc đứng lên lật đỗ chính phủ Ngô đình Diệm. Tôi làm Hiệu trưởng từ tháng 6 năm 1960 đến ngày một số quân nhân tôi tớ nhà Ngô trở mặt làm phãn ngày 1/11/63. Tất cả những trường mang tên Tân bình trong nước đều bị đóng cữa và tại Qui nhơn tôi bị chính phủ quân nhân bắt đi tù hơn 6 tháng, vì người ta rằng đồn tôi là tay chân cuả gia đình nhà Ngô. Ty công an Qui-nhơn được bàn giao cho một đại úy Hiến binh đã cho lệnh bắt tôi giam biệt lập trong phòng tối. Sau suốt 20 ngày nằm trong phòng tối, họ được lệnh giải giao tôi về Tổng nha Giám đốc Công an Saigon ở đường Võ Tánh. Đây là chuyện oan uổng và tôi thì nghỉ rằng có lẻ cái số kiếp tôi là số kiếp “bị tù oan” đều đều!

Thực ra chuyện tôi được mời làm hiệu trưởng cũng là chuyện tình cờ từ đâu đến mà tôi chẳng hay. Có lẻ người ta đã theo dỏi tôi từ lúc tôi trở lại Huế dạy ở trường Providence và trường Tân bình mà tôi không biết. Tôi chỉ nhớ có một lần cha Lê văn Ấn (về sau làm Giám mục Phú cường và Tổng Tuyên Úy quân đội VNCH), lúc đó đang là bề trên tại Đà nẳng có ra Huế nhờ cha Trần hữu Tôn (lúc đó làm Hiệu trưởng Providence Huế) tìm cho một giáo sư đứng tên Hiệu trưởng trường Trung học Sao Mai Đà nẳng. Cha Tôn có hỏi ý kiến tôi, nhưng tôi chần chừ, nên về sau cha Tôn dành lại cho anh Vinh cùng là bạn giáo sư Providence.

Tôi còn nhớ vào năm 1960 trong khi tôi nghỉ hè Đalat vừa ra lại Huế, thì tình cờ gặp Đại Úy Nguyễn văn Minh (sau nầy là Trung tá), chánh văn phòng quân sự cuả ông cố vấn Ngô đình Cẩn, em cuả Tổng thống Ngô đình Diệm, lãnh đạo chính trị miền Trung, và trong câu chuyện xã giao, anh Minh biết tôi là giáo sư Providence và Tân bình Huế, có cho tôi biết tĩnh Qui nhơn đang cần một người làm Hiệu trưởng, và nếu tôi muốn thì anh sẳn sàng giới thiệu. Tôi thấy được vào làm việc tại Qui nhơn gần Thầy Mẹ tôi cũng là dịp tốt, nên tôi nhắm mắt chấp nhận ngay mà chẳng cần hõi han những điều kiện, lương hướng, làm với ai, thuộc quyền trực tiếp ai. Qua ngày hôm sau, anh Minh trao cho tôi một bức thư và yêu cầu tôi vào Qui nhơn gặp ông Từ tôn Dũng, con cụ Từ bộ Quýnh (Huế), lúc đó đang là một nhà đại thầu khoán xây cất khắp cả miền Trung.

Cầm bức thư mà cứ lưởng lự, vì không biết ai viết bức thư nầy mà có quyền hạn giới thiệu cách chắc nịt với tôi như vậy. Phần thì nghỉ đến chuyện trước khi ra đi, tôi phải xin thôi dạy Providence và nếu lở tôi vào Qui nhơn mà người ta không nhận, thì làm sao tôi trở ra Huế dạy lại Providence được! Nhưng tánh tôi là chỉ ưa có dịp sống với gia đình Thầy Mẹ tôi, ít ra một thời gian, nên cứ “nhắm mắt đưa chân” vào Qui nhơn. Chẳng cần đắn đo. Không chút do dự.

Tại Qui-nhơn, sau khi gặp ông Từ tôn Dũng, thì ông nầy lại đón tiếp tôi cách niềm nở. Ông Dũng cũng chẳng hỏi han gì về đời riêng tôi, về chương trình làm việc sắp tới cuả tôi tại đây. Tôi có linh tính rằng ông ta hoàn toàn tin cậy vào tôi. Thật vậy, về sau tôi đề nghị bất cứ việc gì, kể cả tiền bạc, ông ta chấp nhận cách vui vẽ. Ban đầu, tôi chỉ yêu cầu ông Từ tôn Dũng lo vấn đề sổ sách tài chánh cho trường, còn tôi lo phần chuyên môn dạy dỗ và trường ốc. Nhà trường có một ông gác giang tên là ông Thiên, (nói là một người gác giang, nhưng thực ra là cả một gia đình, ông ta người làng Tam toà tỉnh Quảng bình), và một thư ký tên là thầy Ba, người cuả Phong trào cách mạng quốc gia Qui nhơn. Về sau có người cho tôi biết thầy Ba thường báo cáo những việc tôi làm cho ông phó tĩnh trưởng Bùi duy Mai, chủ tịch PTCMQG Qui nhơn. Nhưng lúc nầy tôi xem trường Tân bình như là trường cuả tôi, nên tôi làm việc suốt đêm ngày. Tôi giải quyết mọi vấn đề trong trường ốc mà chẳng cần hỏi ý kiến bất cứ ai, nên thầy Ba tự ái và tự động xin nghỉ. Tôi yêu cầu ông Từ tôn Dũng cho thư ký kế toán cuả ông ta trực tiếp làm thủ qủy. Tiền học phí thu vào thì người thủ qủy làm sổ sách và nộp cho ông ta, tôi không hay biết gì đến chuyện tiền bạc.Tôi tuyển một thư ký mới chỉ lo ghi tên học sinh nhập học và sồ sách lương hướng hàng tháng cho các giáo sư rồi chuyển tôi duyệt ký trước khi trao cho ông Từ tôn Dũng để ông cho viên kế toán phát lương cho giáo sư.

Trước khi nhập cuộc, ông Từ tôn Dũng cho tôi biết rằng trường Tân Bình lúc nầy đã bệ rạc, sắp đóng cữa. Vì mấy năm nay trường nầy giao cho Phong trào Cách mạng Qui nhơn, nhưng họ không điều khiễn nỗi nên nay mới trao lại cho tôi. Thôi đã phóng lao thì phải theo lao, tôi bắt tay vào làm việc kể từ tháng 6/60 và việc đầu tiên là lo cải tổ thành phấn giáo sư cho niên học 60-61. Việc nầy không phải là dể, bởi lẻ ở một tĩnh lẻ với số học sinh có giới hạn thì làm sao chu cấp lương hướng cho một giáo sư đệ nhị cấp. Tôi thay đổi toàn bộ giáo sư bằng cách vào Saigon tuyển chọn một số giáo sư mới. Trong số giáo sư khó khăn nhất là giáo sư Anh văn, vì một người dạy Anh văn ở đệ nhị cấp tại Saigon lương gấp bội, khi ra dạy một tĩnh lẻ thì không làm thế nào đủ giờ chu cấp cho có cùng đồng lương khi người đó dạy tại Saigon.Các môn khác như Pháp văn, Lý hoá, cũng trong sự bế tắc nầy. Mặt khác trường Tân bình là một trường có chủ trương đường lối theo đường hướng quốc gia. Việc tuyển chọn giáo sư phải là thành phần không có phe phái chính trị, nhất là thành phần chính trị cộng sản. Đây cũng là lý do mà PTCMQG không làm được và cũng là lý do e ngại cuả tôi. Với tôi, sự thành bại chưa đáng kể bằng sự người ta áp đặt tôi vào trong một thành phần chính trị. Bởi lẻ tôi nuôi mộng “rời đất nước Việt nam” giửa cơn khói lửa ý thức hệ nầy. Khi vào Saigon, tôi có nhờ bạn bè giúp sức, trong đó có anh Dương văn Hiếu, phó Tổng Giám đốc Công an, giúp giớí thiệu tôi vài người giáo sư thân tín.

Trước khi khai giảng niên khoá 60-61, tôi mở môt cuộc cắm trại tại trong khuôn viên nhà trường. Ngoài số học sinh niên khóa cũ, tôi cho mời tất cả mọi học sinh lứa tuổi Trung học trong tĩnh và gửi thư mời một số quan chức trong tỉnh đến dự trại. Mục đích cuộc cắm trại là cho mọi người biết có một sự đổi mới tại trường Trung Học Đệ Nhị Cấp Tân Bình. Rất may là ông Tỉnh trưởng Nguyễn thúc Duyên đến khai trương cuộc cắm trại cũng là cơ hội gián tiếp báo cho toàn phụ huynh con em trong vùng biết có sự cải tổ đường lối giáo dục tại trường nấy. Thật vậy, trường trung học Tân Bình hôm nay đã chấn chĩnh và đổi mới, từ kỷ luật học đường đến sự dạy dỗ. Cuối năm trường đã là nơi trung tâm các cuộc thi cử và nhà trường đã có thí sinh đỗ cao. Tiếc thay chưa đầy 3 niên khoá, trường Trung học Tân bình đóng cữa, bị tịch thu và cho thiết lập một trường công lập Nữ Trung học Qui-nhơn. Hôm nay nếu tình cờ có ai hỏi tôi về tuổi đời cuả ngôi trường nầy thì tôi xin trả lời rằng: Xin cứ đếm số tuổi các cây thông cao lớn nhất quanh trường là biết ngay. Bởi lẻ cứ mội cội cây thông già đó đã thấm mồ hôi và nước mắt cuả chính tôi một thời.

Người thứ hai mà tôi xem như người anh từ ngày tôi đến Vạn tượng (Vientiane) để dạy học. Ban đầu anh Phạm văn Anh chỉ biết tôi là một giáo sư người Việt mới lên Lào, không quen biết ai và đang cần nhà ở. Lúc đó anh Anh làm công chức sở lục lộ thời chính phủ Phouma (Lào) lại kiêm nhiệm thêm nghề thầu xây cất nhà cữa, nên cũng được nhiều người Lào và Việt kính nễ. Ngoài ra anh Anh còn là một y tá trưởng cuả một nhà thương tại Vientiane. Một ngày nọ, anh Anh đến gặp tôi và đề nghị đi thuê cho tôi một cái nhà gần toà Đại sứ VNCH. Vì vợ con tôi cũng sắp lên Vientiane nên tôi cũng rất cần nhà ở, chứ ở chung với người khác cũng bất tiện. Về sau gia đình con cái anh Anh xem tôi như người gia đình ruột thịt kể từ khi tôi dạy chúng nó.

Trở lại vụ đi Úc, tôi còn nhớ cách đây 2 năm, khi ra nhà đại diện hảng du lịch Sans Frontière ở quận Uccle để mua vé. Tại đây người bán vé cho biết chỉ còn 2 chỗ trống, nếu đi thì phải mua ngay bây giờ và trả tiền tại chổ tức thì. Vợ tôi chẳng cần hỏi ý kiến tôi và cứ tự tiện đóng tiền, dù cho chuyến đi trên 30 giờ bay chỉ ngưng nghỉ ở trạm sân bay Malaysie một lần. Nhưng nếu vợ tôi có hỏi ý kiến tôi, thì tôi cũng bằng lòng vì không biết có chuyện gì bên Úc mà cả hai vợ chồng Võ Dũng, con đầu tôi cứ điện thoại bảo tôi qua gấp. Về sau tôi mới biết là tôi qua để có thì giờ chơi và gần gủi hai cháu Charlotte và Alexandre trong dịp nhà trường nghỉ 2è trimestre cuả niên học.

Ra đi với hành lý cũng khá nhiều nên hai cô con gái tôi, Hạnh và Hồng, đề nghị là tất cả những vật nặng và cồng kềnh sẻ giử lại trong một rương sắt gửi bằng máy bay riêng, vì theo lời đề nghị cuả Pierre, bạn cuả Vincent chồng Hạnh, hiện là nhân viên cuả hảng máy bay nên cước phí rất rẻ, chỉ trả Euro 25 xu/kilo từ Bruxelles đến Sydney.

Dự bị cho cuộc đi cũng khá rộn ràng, cả tuần con cái sum họp đầy đủ và tổ chức ăn uống linh đình. Đến ngày đi, 28/6/2002, thì Ánh buộc phải đi séminaire bên Lyon, còn Hiễn,Genevière, Philippe đều bận đi làm nên không thể sắp xếp để đưa hai vợ chồng tôi ra sân bay Zaventem được. Riêng Vincent đang nghĩ phép, nên mọi chuyện đưa đón đều gán cho Vincent sắp xếp. Thế là tối 27/6/02, vợ chồng Hạnh và Vincent mang cháu Hélène đến ngủ tại nhà tôi, rue Vanderkindere 189, Uccle, để chuẩn bị đưa vợ chồng tôi lên đường đi Úc vào sáng sớm hôm sau.

Hôm nay, cháu Hélène cười nói liên miên, làm tôi nghỉ đến những ngày tôi và vợ tôi vắng mặt Bruxelles thì ai đưa cháu đến nhà giử trẻ? Cháu vừa hơn một tuổi nhưng khá thông minh, đã biết đọc 25 chữ cái và đếm đến con số 100. Hằng ngày tôi đưa cháu đi dọc đường, cháu cứ đọc vanh vách mấy con số nhà cữa và mấy tấm bảng ghi số xe hơi. Việc nầy mọi người ai cũng lạ khi nghe cháu đọc và biết tuổi cuà cháu. Bà nội Hélène là assistante sociale tại một trường Trung học ở Jodoigne cũng phải nói đây là trường hợp hy hữu và mọi người định tìm cho cháu một trường học dành cho trẻ con surdoué có quotient d’intelligence từ 8/10 trở lên. Khỗ nổi là tại Bĩ vấn đề học hành phải theo luật lệ tính vào số tuổi và như vậy thì Hélène không những được học băng lớp mà còn phãi học chậm trễ lại gần một niên học. Đây cũng là điều rất khó nghĩ cho các bậc phụ huynh, vì theo tâm lý khi một đứa trẻ học quá lớp cao quá sớm thì thường bị cô lập với chúng bạn trong lớp có tuổi lớn hơn và cô giáo cũng không thể bỏ cả lớp học mà dạy riêng cho một vài đưá trẻ nhỏ tuổi thông minh hơn. Rút cuộc đứa trẻ nhỏ tuổi bị cô lập! Nhưng nếu để đứa trẻ học theo lớp tuổi bắt buộc thì suốt năm đứa trẻ đó đến lớp cũng chỉ ngồi chơi, vì các điều cô giáo dạy cho các trẻ khác quá dễ dàng, đứa trẻ không cần phải học. Mặt khác cô giáo không thể để cả lớp ngồi đó để dạy riêng cho đứa trẻ thông minh hơn, và do đó đứa trẻ vẫn bị cô lập ngay trong lớp. Đó là điều nan giải trong lúc cho đưá trẻ đến học đường.

Tôi muốn đi ngủ sớm để dưởng sức cho cuộc hành trình trên 25 tiếng đồng hồ, từ Bruxelles đến Sydney, nhưng không thể nào ngủ được, vì tất cả con cháu đang tập trung bàn tán chuyện đi hè lần nầy cuả chúng tôi. Vợ tôi thì vẫn như thuở nào, mội lần đi xa, cũng bắt đầu gội đầu và đang loay hoay sấy tóc. Tiếng cười nói và tiếng động trong nhà làm tôi cũng không chợp mắt được. Thế mà đồng hồ vừa chỉ 4 giờ sáng mọi người đã thức nhau dậy. Ánh đi séminaire. Hiễn đi trực. Philippe và Genevière sẻ đi làp việc. Chỉ còn Hồng và hai vợ chồng Hạnh Vincent và cháu Hélène đưa xe chúng tôi lên phi trường Zaventem.

Nước Úc dưới mắt tôi.

Trong quyển Eden in the East cuả Stephen Oppenheimer trang 125 có giải thích sơ qua những thuật ngữ về tên gọi các dân cư trong vùng Đông Nam Á châu khá phức tạp. Những préfixe nào là Austronesian, Austro-asiatic, Austric, Austro-tai,...chỉ có nghỉa là các quốc gia phương nam cuả địa cầu cùng có tiếng nói theo một hệ ngôn ngữ. Ví dụ: Austranesian có nghỉa là vùng có nhiều đảo ở phương nam địa cầu cùng hệ ngôn ngữ Đông Nam Á.(Sud Est Asiatique). Australia là vùng đất lớn ở phương nam địa cầu cùng hệ ngôn ngữ Đông Nam Á. Australia nằm trên một lục địa khá lớn, xấp xĩ bằng 20 lần diện tích Việt nam, mà dân số thì quá ít vỏn vẹn trên dưới 20 triệu. Trên phần đất Australia còn một giống người thời cỗ đại trên 30.000 năm đang sống sót gọi là Aborigène. Chủng tộc nầy còn sống rải rác thành bộ lạc trong miền sa mạc tại trung tâm Úc châu với trên 300 thỗ ngữ. Một số còn sinh sống trong những nhà cữa xây trên ngọn cây chẳng khác nào như tổ chim. Phần lớn sắc tộc nầy còn sống trong văn hoá du mục săn bắn hái lượm, dù cho chính phủ trung ương tại Canberra đã có chương trình muốn khuyến dụ tập trung và hết sức giúp đở khai hoá.

Tôi nhớ lại lần đầu tiên tôi đến Úc châu được một số học sinh cũ trường Taberd Saigon tiếp đón đúng mức (réception compassée) vào ngày đầu năm tại nhà riêng cuả anh chị Ái (Bankstown. Lúc nầy anh Ái đang giử chức tổng thư ký toà báo Việt luận. Trong số học sinh cũ, hôm nay đã có người tham gia vào các tổ chức chính trị người Úc, và người được giới thiệu là nghị viên Nguyễn cãnh Phương ở Cabramatta và thượng nghị sĩ Nguyễn Sang ở Melbourne. Tôi cũng rất vui và rất hảnh diện sau khi được biết tin đó. Buổi tiệc tuy đơn giản, chỉ có cháo vịt, tiết canh vịt và bia, nhưng rất thắm thiết tình nghỉa anh em cựu học sinh Taberd đã dành cho tôi. Đây cũng là lần đầu tiên con tôi, Võ-Dũng, ăn tiết canh vịt và khen ngon đáo đễ.

Đất theo quê, lề theo thói. Có đến Úc mới biết xứ Úc. Rượu bia là tài sản quốc gia Úc. Người Úc uống bia thay uống nước. Với tôi thì thích rượu chát hơn là uống bia, nhưng tôi cũng cần phải nếm đủ thứ bia Úc cho biết mùi vị. Mổi tiểu bang Úc lại chế ra một vài loại bia khác nhau, riêng tại Sydney thì người ta uống nhiều Foster’s Lager hoặc Four X. Dù sao bia xứ Úc không có độ nặng và không đủ hằng trăm loại như bia xứ Bĩ cuả tôi.

Người Úc gọi người Mỹ là Yanks, gọi người Néo-Zélandais là Kiwis và người Anh là Bloody Poms. Sau khi tôi hỏi lại vì sao lại gọi Pom thì được trả lời rằng chữ Pom là vì trong các cuộc diễn hành quân đội người Anh thường đội cái mũ có chùm lông đõ, nhưng cũng có người cho tôi biết chữ POM là do Prisoner Of His Majesty, mà người Anh thế kỷ 19 ghi lên trên áo quần tù nhân người bản xứ. Tánh tình người Úc rất cởi mở, thích đón tiếp bạn bè từ xa đến dù là họ chưa quen biết.

Lần đầu tiên tôi ngủ khách sạn người Úc. Sau khi ghi tên giử phòng, người chủ trao cho tôi và mỗi người một cốc inoxydable chứa đầy sữa. Một anh bồi phòng hỏi tôi thích ăn sáng thứ gì và trao cho tôi một tấm menu và nói là anh ta sẻ đưa thức ăn đến tại phòng. Trong phòng ngủ có sẳn một bình nấu nước bằng điện và một số gói trà và đường. Nghe nói người Úc ít uống cà phê, nhưng họ như người Anh chỉ thích uống trà với đường sữa.

Sáng sớm, sau khi tôi tắm rữa xong xuôi, tôi nghe tiếng chân cuả người đi qua ngoài cữa phòng, tôi nghỉ rằng anh bồi đem thức ăn lên cho tôi, nhưng tôi đợi mãi mà chẳng thấy ai gõ cữa. Ngồi trong phòng tôi cảm nhận có mùi thơm cuả thức ăn và đoán chắc rằng anh bối phòng đang đưa thức ăn cho người bên cạnh. Nữa giờ hơn cũng chẳng thấy gì, tôi bèn dọn dẹp hành trang để ra xe. Vừa mở cữa thì anh bồi chiều hôm qua cất tiếng hỏi:

-Ban-jua Mister, lơ pe tít des jeun né tait bon? (bonjours monsieur, le petit déjeuner était bon ?). Thì ra anh bồi nầy biết tôi từ Bĩ đến và đã nói tiếng Pháp với tôi, nên tôi cười :

-Vous avez trompé. Je n’ai pas encore mangé. Je ne vois personne. (Thế anh nhầm rồi, tôi chưa ăn , tôi chẳng có thấy ai đến đây) !

-Mister, ce moi venir avec les pe lat (monsieur c’est moi qui viens avec les plats)..Thưa ông, chính tôi đã đưa thức ăn cho ông từ sáng sớm.

Anh ta vừa chạy vừa nói gì tôi không hiểu. Đoạn anh ta đến cánh cữa gần bên phòng tôi chỉ vào tấm giấy ghi sẵn thức ăn dành cho tôi gồm có một dĩa trứng chiên khuấy thành mảnh vụn và mấy miếng bánh mì đã nướng bên cạnh vài lát thịt mỡ ba rọi chiên ròn . Vì là lần đầu nên tôi chỉ biết trố mắt cười. Thoáng một nhận xét đi qua óc tôi rằng dù sao lối xả giao và cách bày biện cuả người Úc còn hơn trong những hotel cuả người Tàu mà tôi bị bắt buộc phải thuê mổi lần đi hè sang các nước cựu cộng sãn và vùng Á châu.

Phần lớn thì giờ trong những ngày kế tiếp, tôi chỉ muốn đi dạo xem cách sinh sống và lối bày biện nhà cữa người Úc chánh cống ra sao. Biết vậy, con tôi đề nghị đi thăm một làng cũ cuả người Anh (Old Village) miền Bắc Sydney. Tại đây tôi thấy mọi nhà cữa đều theo một kiến trúc bên Anh và có vẽ xưa thật. Chẳng có cánh cữa nhà nào tra thêm ổ khoá (sans verrou) như bên Âu châu và các nước khác. Phòng tắm và phòng vệ sinh cách biệt nhau một vách ván nhẹ đóng kín . Trong nhà không có tường chia sẳn thành phòng cách biệt nhau, mà họ chỉ dùng những cái tủ bằng gỗ rất cao và rất đẹp. Giá như các tủ nầy được tải về Âu châu thì giá đắt hết chổ nói. Tại đây mà đi tìm cho ra một chỗ để cắm điện thì khó khăn lắm, hình như không có và có thì cũng không đúng với chấu điện của Âu châu. Nhà nào phiá sau cũng dành khoảnh đất trồng đầy cây hoa exotiques thay nhau nở suốt quanh năm. Có lẻ vì vậy mà cứ vào ban đêm những đàn cóc con cứ từ trong gốc các bụi cây nhảy ra sân tìm thức ăn. Tôi chẳng dám bước ra ngoài. Hỏi ra mới biết người Úc ghét cóc lắm, họ bảo rằng cóc đã làm hư hại muà màng, nên ở các vùng nông trại thường hay tổ chức những cuộc săn đuổi cóc. Do đó cóc lẫn trốn vào các vườn nhà ở và làm tổ sinh đẻ đầy đàn, cứ vào đêm là cất tiếng kêu cách rên rĩ, chứ không oang oang như tiếng cóc ở Việt nam!.

Một số người Úc mời tôi đi chơi lawn bowling, tương tự như bouling bên Âu châu. Dù không biết chơi môn thể thao nầy, nhưng tôi cũng cứ ra đi nhập cuộc trong dụng ý hoà nhập với dân bản xứ. Khi ra sân, tôi mới nhận ra rằng một mình tôi ăn bận khác với tất cả mọi người. Tôi bận áo sơ-mi mầu đõ và quần dài mầu xanh đen in lộ ra giưả cả một khung trời đồng phục. Tất cả mọi người đều bận áo quần trắng toát từ đầu đến chân : mũ trắng, áo sơ-mi tay dài trắng, quần dài trắng và dày cũng mầu trắng. Có lẻ vì vậy mà mọi người đều nhận ra rằng tôi là người lạ mới đến chơi lần đầu, nên chẳng cần ai giới thiệu mà người nào cũng đến chào hỏi tôi cách vui vẻ.

96 800x600 Normal 0 false false false FR JA X-NONE /* Style Definitions */ table.MsoNormalTable {mso-style-name:"Table Normal"; mso-tstyle-rowband-size:0; mso-tstyle-colband-size:0; mso-style-noshow:yes; mso-style-priority:99; mso-style-parent:""; mso-padding-alt:0cm 5.4pt 0cm 5.4pt; mso-para-margin:0cm; mso-para-margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:10.0pt; font-family:"Times New Roman";}