Ba Cay Truc

Bảng quảng cáo
  • Tăng kích thước chữ
  • Kích thước chữ mặc định
  • Giảm kích thước chữ
Chào Mừng Bạn Đến Với Trang Báo Điện Tử­ Ba Cây Trúc **** Mọi bài vở và thư từ xin gởi về bacaytruc@gmail.com**** Có hiểu mới biết thương, có thương thì mới trọng, có trọng thì mới biết giữ gìn ****

Unicode 8: Tu-a-Tu 1

Email In

Chiếc tù à tù của ngưi bản địa.

Ngưi đàn ông thân mình gần như trần trung cố ra sức thổi một điệu nhạc lạ tai. Âm điệu hoàn toàn không dn dập in i như loại nhạc rock thi trang tây phương hay yểu điệu lả lơi như loại nhạc tin chiến trên quê hương mà tôi thưng nghe biểu diển tại các thính phòng. Toàn bản nhạc ch là nhng tiếng đu đu tạo ra hai âm thanh trầm trầm: tù à tù, tù à tù, không có phần kết thúc.

Tôi viếng thăm Úc châu lần nầy là lần thứ sáu, và đã ba lần ghé vùng núi Blue Mountains để ngắm cảnh núi rừng của dảy núi The Three Sisters. Xuống ga, cứ đi theo suốt con đưòng chính của thành phố Laura, xéo chệch qua trái, ri men theo ven trin núi để nhận cho r ba chm đá tưng hình thiên nhiên kia, và lần nào tôi cũng không khi dừng chân xem lão trổ tài. Lão độc tu thuc lòng bản nhạc một mình. Mi dáng điu biu din chẳng h thay đổi. Mi tiết tu vẩn giử y nguyên. Mi âm điu vẩn mang sắc thái giận hn, căm tức. Dưng như các đặc tánh đó cứ chực sẳn trong tim óc lão, tiện dịp là trào ra. Ðó là điu khó hiểu.

Nhiu ngưi bảo rằng lão từng nuôi mộng làm cuộc cách mạng cho dân tộc lão thoát khi s cai trị của ngưi Anh, nhưng vì lão mang theo nhng tâm sự cá bit trin miên của gia tộc và của tôn giáo, nên từ lâu lão không tìm ra đưc lối thoát nào cho tho đáng. Lão c níu kéo thi giăn trở v thuở hoàng kim thi đại cuả ông bà t tiên lão, thi buổi hoang sơ, thức ăn tri cho sẳn, cây trái đầy rừng, ch cần vài ngưi nô bc ra sc săn hái đem v cúng hiến. Nhưng giả thử mi ngưi trên lục địa Úc châu cùng giống hệt lão, thì chắc chắn các nhà máy k ngh sẻ đình tr và xả hội Úc sẻ không phát trin đưc như hôm nay. Thật khó mà nói!

Trên bộ mặt nhăn nhó thảm thương của lão, dưới hai mủi chân mày chạm vào nhau, hiện hình hai con mắt bị bịt kín bởi hai dảy lông mày rậm đen. Miệng lão n mạnh vào chiếc tù à tù chừng nào thì hai gò má lão càng phòng to ra, và nhng đưng gân máu nổi bật tạo thành đưng nếp g gh rt xu xí. Ðặc biệt là tốc điệu thôi thúc phát ra từ chiếc nhạc cụ rt ăn khớp với điệu bộ của lão. Hai khuỷu tay lão cứ theo nhịp "tù-à-tù" mở ra và khép lại vào nách, dưới sức nóng 30 độ bách phân càng làm cho thân hình lão nhuể nhải cả m hôi. Cái lối đánh nhịp của lão trông ra cũng thô sơ và dể dàng. Ch cần hai gót chân thay phiên nhau dậm mạnh xuống mặt thanh đá như đứa trẻ vừa chập chửng đi. Và my lỗ hng to tướng dưới gót chân lão hôm nay đủ cho du khách đoán biết sức đay nghiến dằn vặt tâm tư lão. Có điu là dù cho lão cố hết sức thổi để tạo ra nhng âm thanh tù à tù khác cao hơn, nhưng vô vọng! Bởi lẻ hơi của lão không th nào lắp đầy th tích của khoảng trống một ống gổ cong queo với đưng kính hơn 5 phân và dài gần hai thước.

Trên nếp da thịt nhăn nheo lổm chổm khô khan và đen bẩn của lão, từ đầu đến chân đưc trang điểm bởi nhng hình vẽ bằng một loại bột h mầu trắng. That nhìn, tôi hi tưởng đến các bức vẽ trừu tưng, vì đi lại ch là nhng đưng có hình xoáy ốc ngay giửa trán, trên hai gò má, và trên ngực. Xung quanh hai con mắt và môi miệng, lão bôi thêm my chm mầu đen và mầu xanh chàm.  Riêng ở phần dưới bụng, nơi hai cánh tay và hai đùi chân, đưc tô thêm nhng đưng thẳng với nét đậm to bằng ngón tay tr của lão. Có lẻ nh vậy nên du khách đứng nhìn không thy đưc nhng đưng nhăn xù xì xép thành hàng trên da lão. Nhìn vào bắp thịt ở chân tay, ngưi các nước văn minh Tây phương không ai tin rằng lão đã hơn 80 tuổi. Toàn là nhng thớ thịt rắn chắc như cây gổ của chiếc tù à tù mà lão đang dùng đ độ nhật. Không biết lão đến đây từ bao gi, nhưng chắc chắn trước ngày Võ Dũng mua nhà ngh mát cuối tuần ở thành phố Laura, ngưi ta đ thy lão đến đây biểu diễn điệu nhạc tù à tù.

Tôi nghe rằng lão là ngưi gốc dân bản địa xut hiện từ hơn 40.000 năm, nay còn sống sót trên lục địa Úc châu nầy, gọi là sắc tộc Aborigène. Thực ra nói như vậy cũng chưa ổn! Bởi lẻ khi nói đến dân bản địa Aborigène tại Úc thì cũng phi đcập đến sắc tộc kỳ cựu  Torres Strait Islander ở min cực Bắc xứ nầy. Mặt khác trên lục địa Úc châu có nhng hàng trăm loại thổ dân Aborigène với nhiu văn hoá và tiếng nói khác nhau. Tính ra hơn 300 ngôn ng và trên 800 thổ ng giửa nhng văn hoá dị biệt như Murri, Koori, Nanga hay Yolugo.. .. Nay với thi gian, một số sắc tộc bản địa đã bị đng hóa hoặc biến mt.

Có lẻ lão không tin vào định luật biến hóa tt yếu lịch sử, nên my chục năm nay lão đả ra công níu kéo bước tiến của sắc tộc lão. Từ ngày chính phủ liên bang Canberra đã ra chính sách giúp đở các sắc tộc bản địa, bằng cách cung cp vô điu kiện nhng nhà ca đầy đủ tin nghi thi trang cho ngưi Aborigène, để họ sống tập trung thành làng xả, thì lão đã biến mt vùng đt của tổ tiên lão di truyn lại. Có ngưi nghe lão kể rằng sự tập trung các sắc tộc bộ lạc Aborigène của chính phủ liên bang là hình thức văn minh tiêu diệt mọi văn hoá các sắc tộc bản địa. Vâng hơn 40000 năm, sắc dân bản địa Aborigène cũng như các sắc dân khác trên khắp hoàn cầu nầy đã phãi trải qua nhiu văn hoá và th chế khác nhau. Từ thi đại bộ lạc bán khai đến quốc gia văn minh, các sắc tộc đu lần lưt đi qua các chế độ chủ nô, phong kiến và dân chủ. Mổi thi đại có văn hoá riêng và dần dà theo thi gian bị tiêu dit bởi thi đại kế tiếp có văn minh cao hơn. Nhưng có một điu khó hiu là k từ khi con ngưi tha mản với một văn minh k thuật khá cao, chưa có một loại máy nào không bắt con ngưi phi mt đi một phần tự do, một phần sức khe và một phần nhản quan. Mổi lần văn minh đi qua, con ngưi ch nói lên đưc cái sở dụng của máy móc bằng một ngôn từ khoa hc của kẻ cả: "Máy nầy hay hơn máy xưa kia nhiu". Ðây là đặc tính tâm ly đ trả li ly do văn hoá của xả hội con ngưi đi đến chổ tự diệt.

Lão mang trong óc rằng không thể để văn minh cướp mt nhng đặc trưng đã dành cho lão qua nhiu đi. Ðối với lão, vic ngưi dân bản địa tôn sùng và làm nô tỳ cho gia đình lão là một bổn phận, chẳng khác nào như tổ tiên gia đình lão nuôi trâu đ kéo cày, nuôi heo đ ăn thịt. Xưa nay, trâu và heo ch làm công cụ thực phẩm cho con ngưi, ngoài ra chẳng có gì khác hơn. Khi con ngưi b thì gi và tin bạc nuôi cho heo bò mau lớn là cốt để mà ăn thịt, thì việc tổ tiên lão b công cuả nuôi dưởng nhng con ngưi khốn khổ đầy đủ sức khoẻ để sản xut là việc "tin trao cháo múc" rt mực tự nhiên. Vì sao gọi đó là hình thức bóc lột cuả chủ nô? Nhng ngưi khốn khổ đó đã bằng lòng trao đổi sức lực cả cuộc đi để chăm lo công việc sản xut cho tổ tiên lão, thì không vì ly do gì họ lại có quyn tích trử của cải riêng tư. Cuộc sống của nhng ngưi khốn khổ nầy, từ ăn uống, phục sức, sản xut con cái, đã có tổ tiên lão chu cp và lo lắng đầy đủ.  Nhưng ngưi ta cứ ly luận rằng tổ tiên lão đã đánh giá trị nhng con ngưi đó như một vật sản xut, chẳng khác nào như trâu bò phi kéo cày, và heo gà trthành thức ăn. Vì  sao ít ai ngh cho rằng tổ tiên lão là nhng kẻ giàu lòng nhân hậu, chẳng khác nào như thi nay ngưi ta b tin ra mua con nít của các nước nghèo đói đem v làm con nuôi? Thực ra đứa con nuôi cũng ch là hình thức làm trò tiêu khiển cho một số giàu sang đưc che đậy qua tình thương bên ngoài. Vì sao ít ai ngh rằng khi ngưi giàu chịu b ra một số vốn cố định để mua một món hàng mà không có hậu Ỷ trao đổi v sau? Vì sao ít ai ngh rằng sự trao đổi v sau của mặt hàng đã giúp cho số vốn tích trử càng lớn?

Lão không chối cải xã hội ngưi nghèo khổ kia đã trả ơn cho tổ tiên lão bằng một tư sản khổng lồ, đất đai ngày càng rộng, lâu đài dinh thự ngày càng nhiu. Nhưng việc nầy, trong lịch s sắc tộc, đã gây ra nhiu trở ngại bt li cho tổ tiên lão, bởi lẻ các lâu đài dinh thự nguy nga kia thiếu ngưi thừa hưởng và thiếu ngưi chăm sóc. Ðể giải quyết nan đ nầy, tổ tiên lão đã chuyển xã hội ngưi nghèo khổ nô ltập trung nầy thành  xã hội bộ lạc dưới hình thức thưởng công cho nhng gia đình đã trải qua nhiu đi đưc gạn lọc làm thân tín. Từ đây một số trong các gia đình trung thành đưc quyn cai quản một số ngưi nghèo khổ làm tôi tớ và quán xuyến công việc sản xut. Nhng gia đình trung thành có quyn dành riêng một số quyn li sản xut trong từng nhóm để làm tư hửu.  Ðây cũng là thi điểm thành hình trong lịch s từ xã hội tôi tớ, còn gọi là xã hội nô lệ, biến thành xã hội bộ lạc sống thành từng vùng, dưới quyn điu khiển của các lảnh chúa. Tinh thần tổ chức cai trị và y’ thúc tranh đu trong xã hội xut phát từ đây.

Thật vậy, không có nhng tổ tiên ông bà của gia đình lão tìm cách tập trung ngưi dân bản địa thành bộ lạc ra công khai phá rừng rẩy đt đai, thì chẳng bao gicó cng đồng Aborigène hôm nay. Lão muốn ngưi dân bản địa nhắc nhở mải đến tên tuổi tổ tiên lão. Lão muốn lịch s nhân loại phăi dành cho tổ tiên ông bà lão và cho lão một chổ đứng, cũng như ngưi Ấn độ đã dành cho thánh Gandhi, vì ông ta là ngưi đã từng kết tội văn minh và cho rằng nguyên nhân mọi sự nghèo khổ của Ấn độ là vì văn minh khoa học đã phát triển quá mức. Việc lão từ b vùng hoang địa cằn cổi giửa sa mạc Úc châu để di cư đến đây sống mt mình giửa núi rừng Blue Mountains với chiếc tù à tù là hình thức chống trả văn minh tây phương, dù ch là thụ động. Thực ra, lão không đủ sức để hô hào cổ xúy ngưi dân bản địa trong việc loại b nhng nhà máy kỷ nghệ như thánh Gandhi, nên lão ch quyết li dụng chiếc tù à tù nói lên nim m c cu lão. Bởi lẻ, theo lão ngh, ít ra trong bộ lạc Aborigène hiện đang có nhiu tộc trưởng như lão từng mt thi xưa kia đưc biệt đải mi còn biết thưởng thức loại nhạc đó và sẻ tán dương c võ hành động của lão.

Lớp ngư(c)i thủ cựu nầy sẻ hiệp sức với lăo cùng hô hào thế hệ kế tiếp bảo t̉n lịch s" sắc tộc Aborigène. Lăo nói: " Tù à tù c̣n là dân bản địa Aborigène c̣n". Lăo ch̀ ngh̀ rằng khi văn minh tước mĂt chiếc tù à tù, th́ ngư(c)i dân bản địa không c̣n là ngư(c)i thuần giống nửa. Có ngư(c)i ngh̀ rằng nh"ng việc chống đối của lăo đă núp sau š ngh̀ khá tinh vi, bởi lẻ nh"ng ngư(c)i đ̉ng niên với lăo cũng s(r) bị đi vào quên lảng. Mọi ngư(c)i ch̀ s(r) hết đư(r)c trọng vọng. Lăo s(r) thổ dân quên lăo cũng như chính lăo đă quên mĂt Ngurunden,vị tổ thần khai sinh ra sắc tộc bản địa Aborigène. Lăo s(r) con sông Murray r̉i đây sẻ lĂp cạn. Lăo s(r) làng mạc trong bộ lạc không c̣n ai ngh̀ đến nh"ng chiếc nhạc cụ tù à tù .

Cứ mổi lần nhớ đến lăo th́ tôi ngh̀ rằng khi kỷ thuật văn minh đă giúp du khách từ miŠn Ðịa trung hải hay Bắc đại tây dương di chuyển đến đây không mĂy khó khăn để ngắm nh́n cảnh núi rừng của vùng tr(c)i The Three Sisters, th́ h́nh ảnh của lăo đă làm cho mọi du khách sống lại với th(c)i đại cỗ lỗ. Thật vậy, trên chiếc váy bằng một loại vải dày cộm ṃn rách, kèm theo vài dụng cụ l̀nh k̀nh bọc quanh thân h́nh lăo trở thành nh"ng h́nh ảnh th(c)i trang trước mắt mọi ngư(c)i. Không ai dám nh́n lăo bằng con mắt y tế để bảo rằng lăo thiếu vệ sinh, phản khoa học. Trái lại, tại đây nh"ng tĂm h́nh khoả thân ngoài phố hay trên màn ảnh tây phương không thể nào thu hút đư(r)c tánh ṭ ṃ của nh"ng ngư(c)i sang trọng. Mọi dáng điệu của lăo đŠu đư(r)c trả l(c)i bằng tiếng vổ tay và giọng cư(c)i hể hả của toàn thể mọi ngư(c)i đang đứng xoay quanh. Mổi lần h́nh ảnh đó hiện ra trong óc, tôi thư(c)ng tự hƠi rằng không lẻ trong cái văn minh th(c)i nay c̣n có một cái ǵ trọng đại thiếu sót mà loài ngư(c)i đang cố đi t́m hay sao? Tôi biết rằng r̉i đây ngư(c)i bản địa Aborigène thế nào cũng phải dùng áo quần theo kiểu tây phương để che chở nắng mưa, họ cũng sẻ sống  trong nh"ng biệt thự, có đủ xe cộ, có nh"ng máy móc như quạt điện, ḷ sưởi, máy giặt, tivi và máy điện tử. Ngư(c)i dân bản địa sẻ bƠ lại đàng sau nh"ng tập quán thủ tục cỗ xưa. Họ sẻ quên mĂt nh"ng miếng trầu cau, nh"ng nghi lể cưới hƠi, nh"ng nụ cư(c)i h̉n nhiên, nh"ng điệu múa t́nh tự. TĂt cả sẻ biến mĂt như cành cây trơ trụi cuối thu! Lẻ d̀ nhiên, miŠn đĂt đơ núi rừng làng mạc của sắc tộc Aborigène sẻ bị chôn vùi bởi nh"ng ống khói tƠa ra từ miệng ḷ các xưởng kỷ nghệ. Nh"ng văn hóa sắc dân bản địa sẻ thay đổi, nh"ng văn tự ngôn từ sẻ ḥa đ̉ng với dân tộc có văn minh cao hơn. Và sau cùng, ngư(c)i dân bản địa Aborigène cũng sẻ dùng nh"ng nhạc cụ tinh xảo hơn chiếc tù à tù.

Nhưng đến đây tôi lại vướng phăi vĂn đŠ gai gốc khác cần trả l(c)i cho sắc tộc nầy. Ðễ sống c̣n, con ngư(c)i chưa hẳn cần bám vào một không-th(c)i-gian cố định. Con ngư(c)i đâu cần phăi thoát ly một luân lš cỗ h"u, để tùy thuộc vào một tư tưởng giáo điŠu, một khái niệm khoa học, một lš thuyết triết học hay một tôn giáo độc nhĂt như th(c)i Trung cỗ tây phương. Con ngư(c)i đâu cần ǵ phăi hiểu rƠ nh"ng thiên tai, nh"ng biến chuyển trong xă hội, mà ch̀ cần hiểu rằng trong vũ trụ thiên nhiên đă có sẳn nh"ng thần lực huyŠn bí khó hiểu luôn luôn hiện diện đễ điŠu khiển mọi vật. Thần lực đó, ngư(c)i th(c)i nay gọi là linh h̉n. V́ sự trùng h(r)p nầy nên giửa con ngư(c)i và thiên nhiên đă nẩy mầm nh"ng huyŠn thoại, nh"ng tôn giáo huyŠn bí, đễ r̉i từ đây phát sinh ra một trật tự xả hội. (égalitarisme du régime social). Trong th(c)i bán khai, con ngư(c)i không bao gi(c) ngh̀ đến sự phân chia giai cĂp hoặc giàu nghèo và phân định thứ bậc trong nh"ng vị thần họ th(c) phư(r)ng. Trái lại họ ch̀ phân chia giửa vị thần hộ mệnh gia đ́nh đáng th(c) và nh"ng vị thần ngoài gia đ́nh đáng s(r). Hơn 40000 năm, sắc tộc nầy nh(c) vậy mà cuộc sống giửa các bộ lạc khắng khít hài ḥa với nhau. Nh"ng giáo điŠu có triết lš, có khoa học logic, nhũng đẳng cĂp thứ bậc giửa các vị thần ch̀ bắt đầu th(c)i gian sau khi có mặt ngư(c)i da trắng, có thể nói bắt ngủn từ khi trong ngôn ng" sắc tộc nầy có mĂy ch" vị kỷ "tôi" (moi) và "của tôi" (mon). Chính v́ ảnh hưởng một văn hóa thiếu vị tha nầy đă dẩn sắc tộc bản địa ngh̀ nhiŠu vŠ tư l(r)i. Xả hội tộc trưởng bị lung lay, con ngư(c)i sắc tộc bản địa dần dà chúi đầu vào nhà máy đễ xây dựng tư h"u (propriété privée).

Lăo có lš đễ ngh̀ rằng ông cha lăo đă gầy dựng ra đĂt nước nầy và hẳn là trước th(c)i gian ngư(c)i da trắng đến đây. Ngót gần 300 năm, ngư(c)i da trắng đặt chân lên mảnh đĂt nầy ch̀ làm cho bầu tr(c)i dân tộc lăo thu nhƠ lại. Ngày càng hẹp dần! Ngay chính con ngư(c)i lăo cũng bị thu lại trên mảnh giĂy cƠn con mà họ gọi là thẻ căn cước. R̉i cứ loại căn cước nầy đổi sang loại căn cước khác, và hôm nay lai lịch của lăo đang dính cứng trong các bộ máy tính điện tử khổng l̉ của ngư(c)i da trắng. Ngư(c)i da trắng đă cướp mĂt đ(c)i tư cá nhân lăo. Họ đă nh́n lăo, v(r) con lăo và cả đến họ hàng gia tộc lăo, dù đă khuĂt, bằng nh"ng con mắt của chiếc máy nầy.

Trước mắt lăo, ngư(c)i da trắng đến đây với nhiŠu kỷ thuật văn minh đă làm xáo trộn mọi luân lš kỷ cương sắc tộc lăo khá tinh vi, thế mà họ cứ hô hào rằng đă đem t́nh thương nhân loại san sẻ với dân tộc nầy. Ngư(c)i da trắng muôm đ(c)i đă tự phụ ḷng nhân hậu qua câu truyŠn tụng "Hảy làm nh"ng điŠu tốt cho kẻ khác như ḿnh muốn kẻ khác làm cho ḿnh". Ðó là một lạm dụng! Lăo ch̀ cầu xin rằng ngư(c)i da trắng "Hảy ráng làm nh"ng điŠu ít khổ đau cho kẻ khác" mà thôi. V́ sao ngư(c)i da trắng không để cho sắc tộc lăo sống với bản chĂt thiên nhiên? V́ sao ngư(c)i da trắng cứ nằng nặc cố t́nh nguyện đi chăm nom săn sóc giúp đở các sắc tộc khác, và khi kết quả không đư(r)c như sở đắc vạch sẳn th́ lại đâm ra thù hận? V́ sao ngư(c)i da trắng không biết cho rằng tánh tự tôn tự nhiên của một dân tộc là một đức tánh sinh t̉n của dân tộc đó, mà cứ ngh̀ rằng "dân tộc đó chống trả ḿnh là kẻ thù của ḿnh"? Việc ngư(c)i da trắng giúp dân tộc khác ḥa nhập vào văn minh và văn hoá họ như khuôn đúc là nguyên nhân của hận thù và chiến tranh hôm nay.

Vâng, hôm nay dân tộc lăo đă có nhiŠu thay đổi thực sự. Ngư(c)i dân bản địa Aborigène thay v́ viết s" trên thành đá th́ ngư(c)i da trắng đă dạy cho cách viết trên giĂy trắng tinh. Ngư(c)i da trắng đă dạy cho sắc dân nầy biết đọc và biết cách truyŠn tụng lịch s" nhân loại đúng như trong sách giáo khoa, biết thưởng thức ngắm nghía các minh tinh trên màn ảnh xuyên lục địa và không gian. Ngư(c)i da trắng đă dạy cho đám trai gái sắc tộc lăo biết ăn bận màu mè sặc sở trong các buổi dạ hội đám đ́nh và nhĂt là ngư(c)i da trắng đă giúp cho dân tộc lăo biết cách thay thế đạo th(c) cúng Thổ thần Tổ tiên Ông Bà bằng nh"ng tôn giáo mới văn minh hơn.

R̉i dần dà dân tộc lăo, nh(c) sự phân tích rƠ ràng của ngư(c)i da trắng, để hiểu rằng con ngư(c)i muốn không lụy thuộc vào súc vật, rày đây mai đó như th(c)i đại du mục, th́ phăi cố gắng làm việc. Sự cần cù lao động là chức năng căn bản sản xuĂt để giải thoát cảnh sống nghèo đói bần hàn. Xưa kia ngư(c)i dân bản địa sống riêng rẻ từng cụm theo huyết tộc c̣n gọi là ḍng tộc (la gens). Trong gia đ́nh ch̀ biết trông cậy vào sức lao động của lớp ngư(c)i đàn ông cùng hoạt động trong một lảnh vực. Công việc trong bộ tộc đă chia cắt rƠ ràng: săn bắn dành cho đàn ông, bếp núc cho đàn bà. Nh"ng ngư(c)i không cùng huyết mủ của ngư(c)i cha đŠu bị xem như thù địch. Từ đ(c)i nầy sang đ(c)i nọ gia đ́nh tạo thành mổi vùng riêng biệt. V́ nhu cầu hoạt động để sống c̣n nằm cùng lảnh vực, nên các dụng cụ cần thiết cho việc sản xuĂt trong các lảnh vực khác quá hiếm hoi, và do đó xả hội ngư(c)i dân bản địa không thăng tiến đư(r)c. Trong các đại học ngư(c)i da trắng đă dạy cho đám trẻ sắc tộc lăo nh"ng lš thuyết kinh doanh núp sau b́nh phong tư bản. Họ lĂy lš do rằng tư bản là h"u tính  con ngư(c)i, ngh̀a là chổ nào có sự hiện diện con ngư(c)i là có tư bản. Tư bản không phăi là chủ nghĩa mà là cá tính tự nhiên của con ngư(c)i. Tư bản không cần phăi có lš luận, v́ nó không phăi là một hệ thống thuần lš duy nhĂt, mà nó thay đổi tùy theo hoàn cảnh từng cá nhân. Không nên nhầm lẩn giưả Tư bản và Cộng sản. Tư bản là bản tánh con ngư(c)i. Cộng sản là lš luận con ngư(c)i. Do đó, chúng ta có thể nói Cộng sản là một chủ ngh̀a: Chủ ngh̀a cộng sản.   Ngư(c)i da trắng giải thích rằng một xả hội giàu có và vửng mạnh cần có nhiŠu sản xuĂt trong nhiŠu lảnh vực. Muốn vậy, con ngư(c)i phăi biết lao động tập thể (travail collectif) để nâng cao sản xuĂt, phăi có sự trao đổi dụng cụ sản xuĂt (moyens de production) để bước sang nh"ng lảnh vực khác và phân chia công việc đ̉ng đŠu (répartition égalitaire) để nâng cao mức trí.

Nh"ng vị giáo sư đến từ Anh quốc đă giải thích khúc chiết rằng trong đ(c)i sống con ngư(c)i cần số thực dụng dưới nhiŠu h́nh thức khác nhau. Kẻ giàu sang th́ thích thẩm mỷ. Kẻ nghèo đói th́ thèm thức ăn. Từ đây, sự đ̣i hƠi cá nhân tạo nên giá trị mọi thực dụng. Chính nh"ng gía trị  thực dụng cá biệt nầy đă làm bàn đạp cho sự lưu chuyển. Chẳng khác nào như du khách tây phương đă đánh giá trị cao vŠ thẩm mỷ văn hoá của chiếc tù à tù, dù cho chiếc tù à tù đối với dân sắc tộc Aborigène chẳng mĂy giá trị. Trong khi đó, nh"ng sản phẩm biến chế từ các xưởng kỷ nghệ của ngư(c)i tây phương lại có giá trị cao đối với các sắc tộc như(r)c tiểu nghèo đói. Thực dụng con ngư(c)i nẩy sinh ra sự trao đổi hàng hoá. TiŠn bạc trong thực chĂt không phăi là cái vốn thực dụng. Nhưng khi muốn trao đổi th́ ngư(c)i da trắng lĂy một loại giĂy in sẳn làm phương tiện cho sự lưu chuyển, gọi là vốn. Việc nầy chẳng khác nào như 40 ngàn năm trước đây tổ tiên lăo đă dùng vƠ óc ṣ đủ mầu làm vốn để mua vàng sắt của ngư(c)i nghèo khổ dày công kiếm đư(r)c từ các hang động giửa núi rừng. Cứ mổi lần mua bán, sự trao đổi giửa hai bên phăi t́m cách cho vốn bƠ ra ban đầu ngày càng phăi lớn hơn. Nếu huê l(r)i thu đư(r)c ngày càng thĂp hơn số vốn, th́ sự trao đổi hàng hóa trở thành vô giá trị. Phá sản!

Từ ngày văn minh ngư(c)i da trắng nhập vào xứ sở nầy, xả hội tù trưởng biến chĂt, ngư(c)i dân sắc tộc lăo, không nh"ng ch̀ dĂn thân vào sản xuĂt chiếc tù à tù, mà c̣n nhiŠu dụng cụ trao đổi khác (outils d'échange). Xưa kia tổ tiên lăo đădành cho một số nô bộc  trung thành trở thành tù trưởng, một thành phần có nhiŠu quyŠn thế và đặc l(r)i, th́ nay nh(c) của cải họ đă l(r)i dụng sự tinh xảo các dụng cụ trao đổi, liŠn ngh̀ đến một xả hội nô lệ mới, ngh̀a là t́m cách gom góp tư l(r)i qua sức lao động của kẻ khác dưới bĂt cứ h́nh thức nào. Lớp tù trưởng trung thành với tổ tiên lăo xưa kia tạo thành một giai cĂp trung gian xem con ngư(c)i mọi sắc tộc bản địa Úc châu như vật trao đổi không hơn không kém một dụng cụ. Ðây là th(c)i điểm đâm ch̉i cho một xả hội Úc châu tân tiến. Ngư(c)i da trắng, nhĂt là ngư(c)i Anh cát l(r)i, đă có công dạy dổ cho sắc tộc Aborigène biết thế nào là tư bản. Họ điŠu nghiên kỷ chính sách tư bản để thành h́nh một chế độ tư bản. Họ hô hào rằng "con ngư(c)i b́nh đẳng trước mặt Thư(r)ng đế". Không một ai có quyŠn bắt ngư(c)i sắc tộc làm nô lệ, nhưng họ sẳn sàng mua sức lực lao động ngư(c)i dân sắc tộc khác. Họ sẳn sàng bƠ một số vốn để nuôi sống nh"ng ai cho họ một sức lao động. Nói khác, trong sức lao động phăi kể mọi thực dụng của con ngư(c)i, từ ăn uống vật chĂt đến tinh thần. Ngư(c)i Anh cát l(r)i đă bƠ tiŠn ra mua sức lao động (force de travail), chứ không mua giá trị sức lao động (valeur de la force de travail). Sức lao động cố định nhưng giá trị lao động thay đổi. Bởi lẻ sức lao động đi trước gía trị sức lao động. Sức lao động là sức sản xuĂt. Giá trị sức lao động là số vốn thu vào sau khi trao đổi hàng hoá đă sản xuĂt. Ngư(c)i da trắng ch̀ cần t́m phương pháp kéo dài sức sản xuĂt để trao đổi. Nhưng lăo tin rằng ngư(c)i da trắng không bao gi(c) cần phăi dạy thay đổi chiếc tù à tù. Ngư(c)i da trắng viện lẻ rằng chiếc tù à tù là văn hóa sắc tộc ngư(c)i bản địa. Hơn cả hàng vạn năm dân tộc nầy đă tiếp nối một cuộc sống thanh b́nh, cả mĂy ngàn năm dân tộc nầy đă sống h̉n nhiên với chiếc tù à tù. Vậy chẳng cần ǵ phăi thay đổi.

Tôi tự nói với chính ḿnh:  Văn minh kỷ thuật đả đem đến nhiŠu tiện ích giải thoát loài ngư(c)i nh"ng cảnh sống khổ sở và man r(r). Văn minh là hiện tại. Văn minh không thể nào đi lui đư(r)c. Ch̀ v́ cái s(r) hăi thiếu văn minh đó đă tạo ra trong tiŠm thức lăo nh"ng nổi niŠm luyến tiếc d̀ vảng. Chính cái s(r) hăi đó đă thúc đẩy con ngư(c)i lăo không biết rằng văn minh không cho đi ngư(r)c với thực tại. Loài ngư(c)i không thể tŕu níu văn minh khựng lại. Văn minh tiến mải với th(c)i gian và không gian. Văn minh bắt con ngư(c)i phăi đi theo con đư(c)ng quyết định bởi lịch s". Th́ ra ngư(c)i bản địa Aborigène, họ củng giống như tôi và đ̉ng bào tôi đăbị văn minh tước đoạt cái Việt nam thuần túy trong huyết  quản ḿnh! Tôi không ngần ngại mà xác quyết rằng ngư(c)i Việt nam tại hăi ngoại hôm nay không c̣n giử đư(r)c tinh chĂt thuần túy như sách báo đă viết. Trái lại, phần đông nh"ng ngư(c)i Việt nam đă tự cho ḿnh là thức giả từ trong nước, hôm nay ra hăi ngoại thư(c)ng làm nhiŠu điŠu rĂt trái quĂy với phong tục tập quán mà họ đă lê lết hết cả cuộc đ(c)i. Chính họ vô t́nh hay h"u š cổ xúy làm gương xĂu cho lớp cháu chắt họ. Thật vậy, sau 50 năm nửa, lớp hậu sinh sẻ ngh̀ thế nào khi biết cha ông ḿnh cũng ch̀ là nh"ng ngư(c)i 'đầy tớ hô hào giết chủ'? Làm sao để lớp hậu sinh đánh giá đúng mức vŠ tôn giáo khi chúng đă tiêm nhiểm l(c)i giảng của vị thiŠn sư 'sát sinh phạm giới'? Tóm tắt, làm sao để lớp hậu thế Việt nam tin đư(r)c nh"ng sách báo, trong và ngoài nước, thiếu trung thực và quá lạm dụng chiêu bài dân chủ tự do hôm nay?

Ðến đây, thiết tưởng tôi muốn t́m một thế đứng, một lối suy tư khác hơn. Ðó là việc tôi muốn đi ra ngoài nh"ng cuộc căi vă thiếu š thức của một lớp ngư(c)i đă đi trước. Dù là đi chậm, nhưng trên bước đầu, tôi cố š tránh một số chướng ngại v́hiểu lầm, chẳng khác nào  nh"ng sự hiểu lầm đă từng gây ra nhiŠu đổ vở từ trong nước ra đến hăi ngoại. Mọi hiểu lầm, nếu có, tôi cầu mong sẻ biến dạng thành nh"ng âm vang trong núi rừng như chiếc tù à tù của ngư(c)i bản địa, hầu cho cuộc đ(c)i có thêm sắc thái thanh b́nh trong mọi văn hoá hoài cỗ hay hoài lai.

Trong hơn 20 năm tr(c)i, tôi thư(c)ng quan sát đó đây, tôi thư(c)ng ngh̀ đến nh"ng mạo hiểm mà nhân loại phải dĂn thân và chịu đựng trước các kỳ công vư(r)t bực của con ngư(c)i khoa học. Giửa khoa học và kỷ thuật có sự liên hệ chặt chẻ nội tại. Ðó là trong mọi lš thuyết vŠ khoa học cơ bản luôn luôn cần đến nh"ng điŠu kiện để áp dụng. Biên giới giửa khoa học thực nghiệm và kỷ thuật trở thành vô nghĩa, v́ không ai có đủ tài xác quyết đư(r)c. Ðể lư(r)c giản vĂn đŠ nêu ra, tôi  muốn t́m một "trung đạo", nói theo nguyên ng" toán học của H̉ng Dương Nguyển văn Hai ngh̀a là một "A và không phăi A" (A et non A). Cách đây hơn 2 năm, liên hiệp các đại học Au châu có đưa ra một định luật mới: "Mọi mệnh đŠ thực có đŠu không có thực" (toute proposition vraie est fausse), cũng không ngoài lối chứng minh của Hưởng Dương trong tập Trung luận