Ba Cay Truc

Bảng quảng cáo
  • Tăng kích thước chữ
  • Kích thước chữ mặc định
  • Giảm kích thước chữ
Chào Mừng Bạn Đến Với Trang Báo Điện Tử­ Ba Cây Trúc **** Mọi bài vở và thư từ xin gởi về bacaytruc@gmail.com**** Có hiểu mới biết thương, có thương thì mới trọng, có trọng thì mới biết giữ gìn ****

Unicode 18: Nhng giong thac lu (Le Hoang Vo Anh)

Email In

Những giòng thác lũ đi qua trong ký ức.

Tôi không có diễm phúc được trải qua cuộc sống như những bạn đồng trang lứa. Tôi sinh ra tại một quốc gia gốc gác ngoài đất nước Việt nam. Tôi lớn lên trong một gia đình mà chính Bố Mẹ tôi cũng không thừa hưởng được nhiều văn hoá thuần túy ông bà. Bố Mẹ tôi xa quê hương từ ngày có người anh đầu tôi vừa Bốn tháng sau trận chạy giặc tết Mậu thân  (1968). Một buổi sáng đầu năm, trước cữa vào nhà có hai xác chết. Một người Việt trong y phục lạ lùng đối với dân miền Nam, tay cầm khẩu súng AK, chân mang dép đế bằng võ xe hơi và một người da trắng, có thể là người Mỹ, gục đầu trên tay lái chiếc xe hiệu Wolwagen. Người Việt gầy còm, mấy ngón tay cấu chặt mặt đất tưởng chừng như  trước khi chết cố gắng tìm cái gì mà chưa được. Còn ông da trắng mặt nghễnh về phía tay phãi, hai mắt còn mỡ chừng chực như muốn trối trăn điều gì với ai .Tôi nghe Bố tôi kể vậy .

Gần Bốn mươi năm nay gia đình tôi chưa có lần trở về thăm lại quê hương, nên không gian Việt nam hoàn toàn xa lạ với tất cả anh chị em chúng tôi. Và đây cũng là một thiệt thòi cho tôi trong những lần chạm trán với bà con gia đình vừa đến quốc gia nầy sinh sống, hoặc với những bạn bè ngoài xã hội mà buổi thiếu thời từng được sống trên đất nước Việt nam. Có lẻ vì vậy mà chúng tôi và phần đông lớp trẻ cùng trang lứa dù cho thiết tha với Đất Mẹ, thì trong tương lai cũng chỉ là việc mộng mơ. Điều dễ hiểu là ngay trong cuộc sống đối mặt với Cộng đồng Việt nam tại hãi ngoại hôm nay, chúng tôi còn quá chập chững từ giọng nói, lời văn đến cách suy nghỉ. Những ý niệm về lịch sữ Việt nam qua sách báo hoặc lời ca tụng lớp trẻ chúng tôi chỉ là huyền bí, hoặc chỉ dành riêng cho lớp tuổi cuả Bố Mẹ tôi.

Tôi đoán chừng lớp người cùng tuổi với Bố Mẹ tôi, đã có lần từng ngắm trăng và mơ được hoá thành chú Cuội hay chị Hằng. Nhưng từ ngày phi hành gia Gleen đặt chân đến thăm chị Nguyệt, thì các bậc lớn tuổi đều vỡ mộng vì biết nơi đây chỉ là cát sỏi bụi bặm, chẳng có gì là đẹp đẻ như chốn trần gian mà thi ca đã lắm lời tán tụng. Thế mà lớp người tuổi cùng Bố Mẹ tôi cứ vẫn mơ và mộng. Vâng, tất cả đều mơ sao cho tuổi thọ được dài lâu. Tất cả đều mơ sao được trúng số độc đắc để có cuộc đời trưởng giả hoặc có dịp rữa mặt hồi hương. Tất cả đã mang đầy mộng được con cháu đầy đàn và có tên tuổi giửa quê hương đất nước. Sau cùng, còn có một số người mang mộng « tranh bá đồ vương » dù tài ba sức lực còn quá kém cỏi !.

Mơ mộng là quy luật cuả tạo hoá dành cho con người không ngăn tuổi tác, trong đó có lớp trẻ chúng tôi. Dúng vậy, lớp trẻ chúng tôi đã mơ «nắng mầu hồng cho môi em thêm tươi và bầu trời xanh cho mắt em thêm biếc ». Nhưng cũng có nhiều người mang mộng lớn, cố đạp đỗ thành quách cỗ nát bao quanh, để phóng mắt nhìn vào tương lai cuộc sống. Rồi cũng như các bậc Bố Mẹ, khi nắng đã về chiều và bầu trời phủ kín mây đen, lớp trẻ chúng tôi mới giật mình tỉnh giấc và biết rằng chúng tôi dã quá mơ và mộng !.

Thì ra mơ mộng chỉ là huyền bí cuả trời đất. Mơ mộng là tiếng hát cuả con người. Khi tiếng hát vang lên, thì tiếng hát không còn là huyền bí nữa và những giấc mộng cũng biến mất !.

Bố tôi là một nhà giáo, nhưng tánh tình thì hoàn toàn là nhà binh. Nhìn vào phong cách bên ngoài thì thấy dịu dàng hoà nhả, nhưng khi Bố tôi đưa ra ý kiến gì thì đó là một lệnh truyền cuả cấp chỉ huy trên trận tuyến. Dù chỉ là lời yêu cầu nhưng trong gia đình đều xem là những cái đinh bằng thép đã đóng vào tường không thể nào nhúc nhích được. Thật vậy, khi ý kiến cuả Bố tôi đã đưa ra thì không còn khoảng trống dành cho một nhận định khách quan. Miễn luận bàn !.

Bố tôi thường nói là con người thì ai cũng thích tự do, nhưng tự do quá trớn, vô định hướng là một trò chơi rất nguy hiểm. Trong gia đình mọi người phải biết ai là cha ai là Mẹ, ngoài xã hội người dân phải biết thế nào là tổ chức cơ cấu cộng đồng. Cha Mẹ phải có bổn phận bảo vệ con cái. Tổ chức cơ cấu phải biết phục vụ giúp đở cộng đồng. Con cái muốn được bảo vệ, người dân muốn được giúp đở, thì con cái và người dân phải trao cho cha Mẹ và người lãnh đạo tổ chức cơ cấu một sức mạnh. Muốn có sức mạnh bắt buộc phải tuân thủ theo một kỷ luật nào đó. Tự do là điều đáng qúy, nhưng nên hiểu tự do trong trách nhiệm và tự do trong luật pháp. Không thể nào có được một sức mạnh khả dĩ khi trong gia đình thì chào xáo gây gỗ, ngoài xã hội cộng đồng chống phá lẫn nhau.

Tôi nhớ mãi lới Bố tôi dặn : « Các con là dân Quảng bình, cái dân ở vùng chó ăn đá gà ăn mói (muối biễn), các con phải có những đức tính khác với người ta. Có hai đức tính căn bản cuả dân Quảng bình, đó là Độc Lập và Chịu Đựng. Muốn độc lập thì các con phải có một cái vốn chất xám trong đầu. Chỉ khi nào các con có bộ óc, các con mới biết nhận định thế nào là tôn giáo và khoa học, thế nào là quyền hành và hiểu biết, thông minh và thống trị, tự do và nô lệ. Có bộ óc các con mới biết chịu đựng được, nhất là chịu đựng về xác tính một lý tưởng, một tôn giáo mà mình đã dấn thân. Vì  ông bà ngưòi Việt đã  dạy với con cháu rằng sau khi đã dấn thân thì không nên tráo trở bội ước. ». Quả là huyền bí thật !. Tôi thường nghỉ vậy.

Mẹ tôi là dân Saigon « chay ». Vốn là chị cã cuả một gia đình đông con, thuộc lớp trung lưu tây học đã ba đời, nên Mẹ tôi lúc thiếu thời cũng được gửi gắm trong các trường « đầm » tại Saigon trước ngày gặp Bố tôi. Vì vậy, nên hôm nay giửa cái lối sống gọi là « văn minh tây phương », Mẹ tôi cũng hiểu được phần nào trước khi gia đình tôi đặt chân đến xứ nầy. (Có lẻ nhờ vậy mà anh chị em tôi sống trên đất nước nầy trong những ngày đầu chẳng lắm khó khăn). Mỗi lần có mấy bà bạn Mẹ tôi đến chơi nhà, tôi thường nghe nhắc chuyện Mẹ tôi từng là quán quân cuả một lớp thanh niên nam nữ thời đệ nhứt cộng hoà trước 1963. Có bà quên cả tên cúng cơm nên cứ gọi tên Mẹ tôi là « souris ». Chẳng hạn « con souris lý la lý lắt Đakao quán quân chạy nhảy ở Marie Curie đó mà ».

Nhưng trong gia đình từ ngày tôi có chút nhận thức, tôi chưa bao giờ thấy Mẹ tôi tỏ ra « quán quân » trước cái ý kiến « độc lập » cuả Bố tôi đã đưa ra chút nào !. Trái lại, Mẹ tôi thường tỏ ra như một « trạm hậu cứ mạnh mẽ » cho Bố tôi là đàng khác. Mẹ tôi cũng thường hay nhắc đi nhắc lại rằng gia tài cuả bà chỉ muốn đầu tư vào những bộ óc cuả con cái mà thôi. Bà lý luận rằng con người thiếu chất xám trong bộ óc chẳng khác gì chiếc xe thiếu xăng, hết nhớt. Thiếu xăng thì máy không nỗ. Hết nhớt mà xe cứ tiếp tục chạy thì máy phải bể, xe sẻ nằm ụ choán chỗ và đợi ngày tống khứ ra nhà bán đồ phụ tùng phế thải là may !. Có lẻ cũng vì cái lối lý luận đó nên Mẹ tôi không bao giờ lơ là chi tiền sách vở và lo chuyện ăn uống cho cả gia đình suốt mấy chục năm nay. Trong nhà bà sắm ba tủ đông đá và ba tủ lạnh luôn luôn chất đầy thức ăn. Mỗi lần anh chị em tôi đi học về, Mẹ tôi không bao giờ quên hỏi : « thế hôm nay các con ưa ăn chi nào ? ». Thật tôi không hiểu nỗi cái tánh cuả Mẹ tôi. Phải chăng cái lối suy tư cuả Mẹ tôi cũng là huyền bí ?

Gia đình tôi có năm anh chị em. Trong ba anh em trai thì tôi là thằng xấu « bộ mã » nhứt và vấn đề học hành cuả tôi cũng không theo kịp anh tôi và thằng em út. Còn nói đến việc lý luận thì tôi chẳng ăn nhằm gì trong mỗi lần đương đầu. Có lẻ vì vậy nên ngoài tôi ra, anh tôi và thằng em út có rất nhiều bạn bè trai lẫn gái. Bọn lớp tuổi cập kê « da vàng và da trắng » thường xúm xít lại nhà và đều xem cả hai người như kiến gặp đường và mỡ. Nhất thiết trong số bạn bè cuả anh chị em tôi chẳng có ai là dân arabe hay da đen, vì Bố tôi cấm kỵ. Điều nầy tôi cũng chẳng lấy làm lạ lắm, vì trong lịch sữ văn hoá người Việt tôi thấy ít ai làm bạn với dân da mầu. Đen đủi lắm, năm thì mười hoạ mới gặp một người đàn bà Việt nam làm vợ một người da đen. Ngay cả một bà dưới miệt quê miền Nam nào đó, một thời là vợ cuả ông tổng thống Boskasa ở Trung đông cũng chẳng ai nễ  mặt. Đôi khi tôi có ý nghỉ táo bạo rằng dân tộc Việt nam là giống người kỳ thị dân da màu nhất thế giới. Qua mặt cả dân Thụy sỉ ! Không biết đúng hay sai ?

Nhưng có lẻ cũng vì tôi không có nhiều bạn gái nên Bố Mẹ tôi thường ra công săn đón tôi nhứt. Có một điều bất thường trong sự săn đón cuả Bố Mẹ tôi mà mãi cho đến hôm nay tôi chưa nghỉ ra. Đó là việc Mẹ tôi thì thường hỏi tôi thích gì ? Còn Bố tôi thì khác hẳn, không bao giờ ông hỏi sở thích cuả con cái trong nhà!. Đặc biệt cái lối săn đón cuả Bố tôi trong những năm tôi học ban trung học lại càng khó hiểu. Ông khuyên tôi mỗi ngày học một chữ Việt. Không hơn không kém. Tôi không hiểu lý do, mà tôi cũng chẳng dám hỏi, vì tôi biết rằng tôi nên « chịu đựng » cho Bố Mẹ tôi vui lòng. Hơn nữa ý kiến cuả Bố tôi đã đưa ra, dù cho là lời yêu cầu, cũng xem như « cái đinh đã đóng cột rồi » và cả nhà ai cũng rõ.

Bố tôi lại có một cái thói chuyên cần lạ lùng nữa là cứ vào buổi tối thường săn đón con cái qua những bài vở nhà trường. Sau đó, Bố tôi không quên săn đón riêng tôi bằng câu hỏi : « thế hôm nay con học được mấy chữ Việt rồi ? Chữ gì ? Viết thế nào ? ». Có thế thôi !. Và lần nào, sau khi tôi trả lời câu hỏi đó, Bố tôi cũng cười ròn tỏ ra bằng lòng lắm. Nhưng cũng nhờ cái cười ròn có vẽ huyền bí cuả Bố tôi, mà tôi đã đeo đuổi lời dặn « học một ngày một chữ Việt » cho mãi đến ngày hôm nay .

Ấy thế mà khi tôi vừa mới ra trường, có lẻ Bố tôi sợ tôi không có việc làm, nên đã quên mất lời dặn con cái chúng tôi v cái đức tính « độc lập cuả dân Quảng bình ». Ông đã ngấm ngầm gửi tôi với vài người bạn bác sĩ người Bĩ, để may ra họ dành cho tôi vài giờ chẫn bệnh. Biết vậy, bác sĩ Pierre Delannoy đã điện thọai đề nghị tôi lấy chỗ ông đang làm trong phòng thí nghiệm về máu ở bệnh viện Charleroi. Còn hai vợ chồng cậu tôi, mổi người có một phòng mạch khám bệnh ở vùng Namur, việc làm không xuể, nên muốn tôi lên đây cùng làm việc. Hoặc giả cậu tôi có thể nhường lại cho tôi phòng mạch ở Jambloux nếu tôi muốn. Vừa mới ra trường mà được như vậy thì ai mà chẳng thích ? Nhưng tôi cứ nghỉ lại lời dặn cuả Bố tôi về đức tánh « độc lập », nên tôi đành cảm ơn sự giúp đở cuả bác sĩ Delannoy và cả hai vợ chồng cậu mợ tôi, nhất quyết tự tìm cho mình một công việc, dù phải mất công chờ đợi.

May thay, chỉ vài ngày sau tôi được thư mời dạy tại một cơ sở nghiệp đoàn Y dược tại Bruxelles. Việc làm rất rỏ ràng : « dạy và hướng dẫn một số trình dược viên đi phân phối thuốc men cho toàn xứ Bĩ ». Cũng trong thời gian nầy, tôi còn có nhiều thời giờ rảnh rang, nên tôi ghi danh học lớp y-sĩ chuyên môn về cấp cứu và hiện nay tôi là nhân viên thực thụ tại một bệnh viện lớn cuả thành phố Bruxelles.

Tóm lại, sự thành công cuả tôi hôm nay, theo tôi hiểu, là nhờ Bố Mẹ tôi đã tạo cho tôi một đức tánh « độc lập », biết tự tạo cho mình có một bộ óc, chứ nhờ cậy vào ai là gián tiếp đem cuộc đời mình lệ thuộc vào kẻ đó. Tôi nghỉ rằng tuổi trẻ biết khép mình vào kỷ luật gia đình, nghe lời cha Mẹ là con đường đí đến thành công. Thật vậy, mọi sự diễn biến ra trước mắt tôi, chắc chắn là nhờ vào kinh nghiệm cuả Bố Mẹ tôi, và nay tôi hiểu ra rằng đức tánh « độc lập » giúp tôi tiến thân chứ chẳng có gì là huyền bí cả.

Nhưng nhiều khi tôi tự hỏi còn đức tính « chịu đựng » thì thế nào ? Sự chịu đựng nằm trong một lãnh vực khác. Nó không ở trong lãnh vực tri thức cuả não bộ. Sức « chịu đựng » phần lớn nằm sẳn trong chiều đo cuả ý thức và tiềm thức cá nhân. Nó liên quan đến phần trí tuệ và tâm linh. Sức « chịu đựng » liên kết với đức tánh khiêm nhường con người. Đức tánh nầy đạt đến giá trị đích thực cuả nó khi con người không bị chi phối bởi ngoại cảnh. Cho nên không lạ gỉ trong khuôn viên đình chùa, con người dể tìm thấy sức « chịu đựng ». Trái hẳn ở ngoài đời giửa nơi hội hè đình đám thì khó mà tìm được. Xin các bậc lớn tuổi đừng tin rằng lớp trẻ chúng tôi chỉ cần vài phút « chịu đựng » để tiến đến thành công, như mọi sách báo đã kỳ vọng tuổi trẻ là tương lai, là thành trì xã hội. Bởi lẻ tuổi trẻ chúng tôi gấn ba mươi năm nay đã hấp thụ một loại văn hoá « tự chủ », khác hẳn với văn hoá « lệ thuộc » cuả cội nguồn.

Có lẻ nào câu nói trong dân gian xưa kia « có tiền mua tiên cũng được » đã ám ảnh những bậc tuổi đồng Bố Mẹ tôi ? Há lẻ cái lối sống sung túc hào hoa cuả xã hội tây phương nên 30 năm nay đã thúc đẩy dể dàng những người mới đến đây chỉ cố chuì đầu vào cuộc tranh sống ?. Lớp trẻ chúng tôi bị ném ra ngoài cho xã hội mới tiếp thu đảm trách lo liệu từ vật chất đến tinh thần. Và trong thực tế, không có cái tinh thần nào dể dàng ăn sâu vào cốt tủy con người bằng tinh thần tự do thiếu định hướng. Do đó, không nên trách cứ một lớp thanh niên tuổi chúng tôi không chịu đựng nỗi một loại văn hoá « kỷ luật », và đã sống thác loạn suy đồi !. Mặt khác, phần đông các bậc tuổi Bố Mẹ tôi vừa mới đến đây chưa có đủ thì gian hội nhập, lại còn mang sẳn trong tim dòng máu kiêu hùng mặc cảm, nên đã tạo ra một hố ngăn chia giửa lớp già và lớp trẻ, duy chỉ vì đức cuả tuổi trẻ chúng tôi không thể dể dàng uốn nắn theo ý nghỉ cuả lớp người lớn tuổi trong một không gian bao bịt.

Hôm nay trong gia đình, giửa năm anh chị em tôi, chỉ có tôi là người biết đọc và hiểu được tiếng Việt. Nhưng lắm lúc tôi cảm thấy băn khoăn vì dường như tôi là đứa con bị thiệt thòi nhứt trong gia đình. Bốn anh chị em tôi sống có vẽ hồn nhiên hơn tôi. Lắm lúc tôi nghỉ rằng cuộc sống cuả Bốn anh chị em tôi sở dĩ được thoải mái là nhờ không biết đọc tiếng Việt và do đó, không cần phải dính dáng gì với những chuyện giửa người Việt như tôi. Mỗi lần tôi báo những tin « nóng bỗng » vừa xẩy ra giửa các cộng đồng Việt nam bên Mỹ hay bên Úc, cả mấy anh chị em tôi chỉ trả lời gọn gẩy mấy tiếng « merci » và « no comment ». Tôi đành cụt hứng và đành đề cập đến chuyện vô bỗ khác. Nhưng trớ trêu thay là khi tôi nói đến những chuyện « cơm không lành, cháo không ngọt » giửa Palestine-Israel, hay giửa Mỹ-Afghanistan-Irak, thì anh chị em tôi lại ưa bàn bạc và lý luận ra điều là am hiểu lắm. Kẻ thì chống việc khủng bố liều lĩnh cuả bọn cực đoan Hồi giáo, kẻ chê Israel chỉ biết dùng đón quân sự và thiếu lương tâm, hoặc chê người Mỹ dội bom lên Afghanistan để truy kích Ben Laden chỉ là việc tốn tiền và nhân mạng. Riêng thằng em út dân luật học, tỏ ra mình có học lịch sữ thế giới, lại dám nói trước rằng « nếu Mỹ cho quân vào Afghanistan, hay vào Irak mà không tìm cách thành lập một quân đội quốc gia thay thế sớm, thì cũng sẻ bị sa lầy như ở Việt nam mà thôi » ! Thật là lạ, vì chuyện nhà thì không ai biết (hay không cần biết), mà chỉ biết chuyện thiên hạ. Nghỉ quá buồn cười. !

Qua những việc « huyền bí » khó hiểu nầy, tôi lại ngờ vực ý đồ Bố tôi khuyên tôi học mỗi ngày một chữ Việt. Không lý là vì sách báo cứ nhắc đi nhắc lại câu nói cuả vị thượng thư thuở nào rằng : « tiếng Việt còn, nước Việt còn », để khuyên răn và lôi kéo những lớp trẻ như tôi phải học để bảo tồn đất nước Việt ? Những bày biện trên tường hay những bài khuyến cáo của các vị bố lão giáo sư trước ngày nghỉ hè thường niên tại các trung tâm văn hoá hãi ngoại đủ nói lên mục đích tiên quyết rằng cha mẹ Việt nam phải khuyên con cái nói tiếng Việt và nên bắt chúng học tiếng Việt để bảo tồn văn hoá Việt nam. Trong khi đó thì Bố tôi lại đưa ra những quan điễm khác hẳn mỗi lần tiếp xúc với bạn bè rằng ông không bao giờ trách cứ con cái dùng ngọai ngữ nói chuyện với nhau trong nhà.

Tuy vậy, tôi vẫn đóan rằng việc tôi biết viết và biết đọc tiếng Việt chắc đã làm Bố tôi bằng lòng lắm. Nhưng có điều là Bố tôi không bao giờ nghỉ rằng học chữ Việt tại các trung tâm Việt ngữ là giử được văn hoá người Việt. Theo Bố tôi thì việc học chữ Việt trước tiên là biết đọc và biết viết chữ Việt, chẳng khác nào như một người đi học một ngôn ngữ khác. Khi người sinh viên càng bỏ ra nhiều thì giờ cho ngôn ngữ nào, thì người đó càng làm giàu thêm ngôn ngữ đó. Còn những chuyện văn hoá, nếu có dính dáng, thì có thể lây lất theo sau.

Tôi cũng nghỉ rằng trong sự tiếp xúc hằng ngày, người ít học và người có học thường hiện ra hai loại ngôn ngữ có trình độ khác nhau. Một bên, người ít học thì nghỉ sao nói vậy , họ chỉ biết dùng loại ngôn ngữ dân gian trong vùng, trong miền. Một bên, người có học thì thường trau chuốt câu nói, dùng lời văn sao cho nghe được thanh tao, bóng bẫy. Vì thế nên trong văn học nước ta đã chia thành hai loại văn chương bình dân và văn chương bác học. Vậy mục đích ôm sách đến trường, vấn đề tiên quyết là để học viết và học đọc một ngôn ngữ nào đó.

Văn học cuả một nước được xem là phong phú hay nghèo nàn, chỉ cần đọc qua ngôn ngữ và văn chương nước đó. Qua văn học chúng ta mới biết được văn hoá. Trong khi đó, con người thì ai cũng có văn hoá nhưng không phải ai cũng biết văn học. Nói khác, văn hoá không bắt buộc phải có sự hiện diện cuả văn học và ngược lại. Lớp trẻ chúng tôi đi học tại các trường người Tây phương để biết ngôn ngữ, văn học và văn chương Tây phương, chứ chúng tôi đâu cần phải phải đến trường người tây phương để học văn hoá người Tây phương. Các trường Tây phương không bao giờ dạy (hoặc không đủ khả năng dạy) lớp trẻ chúng tôi phải « ăn thịt gà với lá chanh » mới đúng điệu văn hoá Việt nam. Các trường tây phương chỉ đủ khả năng dạy lớp trẻ chúng tôi văn chương và văn học tây phương. Do đó phải nghỉ rằng lớp trẻ chúng tôi tìm đến các trung tâm Việt ngữ là để học đọc và học viết ngôn ngữ Việt, chứ không phải đến đây để học văn hoá Việt.

Mục đích việc đi học hoàn toàn nằm trong lảnh vực văn học, nghỉa là chú trọng về kiến thức. Đây là nền tảng trực tiếp trong lãnh vực tư duy và sự tiến triễn trí tuệ tương lai nhân loại. Trong khi đó, văn hoá là hậu quả tất yếu cuả không gian và thời gian, cuả cái khung trời mà con người đã sống và đã lớn lên chuyển tiếp từ đời nầy sang đời khác. Người biết một ngôn ngữ chưa hẳn là người có mang trong tim cái văn hoá cuả cộng đồng nhân loại có cùng ngôn ngữ đó. Người biết tiếng Mỹ và giỏi tiếng Pháp chưa hẳn là người Mỹ chính cống hay người Pháp thuần túy. Trái lại, nhiều người cùng một văn hoá nhưng trong ngôn ngữ thường diễn đạt không giống nhau. Người biết sành sỏi ngôn ngữ Việt nam không cần phải là người có văn hoá Việt, mà có thể người đó đã làm cho từ ngữ Việt nam giàu thêm bằng cách thiết kế những loại ngôn ngữ cuả nhân loại, cuả văn minh khoa học, theo kiến trúc hợp với văn chương người Việt.

Cách đây một tuần nhật, ông chú ruột tôi có ý làm quà cho chúng tôi một ít bò khô sãn xuất tại Mỹ. Khi ông ra nhà giây thép gửi, cô nhân viên không biết Bruxelles là nước nào, ở đâu, để đánh giá trị tiền gửi. Rút cuộc ông chú tôi đành trở lui về nhà điện thoại tỏ rỏ sự việc với Bố tôi và Bố tôi cho biết Bruxelles tiếng Mỹ gọi là Brussels, thuộc vương quốc Belgique gọi là Belgium. Đó là chuyện có thật, không ngoa chút nào !. Giả như bà đầm kia hay ông chú tôi có học thêm loại ngoại ngữ Pháp, hoặc trong văn chương người Mỹ có sẳn sự cấu trúc ngôn từ thì chắc chắn đã không xẩy ra sự kiện chạy vạy thiết thực trên ! Đó là ích lợi thực dụng khi con người có cắp sách đến trường để mở mang kiến thức.

Con người thường có tánh tự hào, nhất là tự hào văn hoá dân tộc. Tôi xin khẳng định rằng văn hoá là cái vốn không cần bỏ tiền ra mua được, mà nó có sẳn từ lúc mới sinh ra cho đến lúc khôn lớn. Ở đâu con người cũng mang theo trong máu huyết mình cái văn hoá cuả khung trời họ lớn lên. Con người Việt không cần đến trường hay đến trung tâm học hiệu nào để cho mình có văn hoá Việt.

Văn hoá một quốc gia được truyền tụng trong dân gian là nhờ văn học, mà trong bước đầu ngôn ngữ quốc gia đó có sứ mạng làm nền tảng. Ngôn ngữ được xem như cơ chế làm giàu cho văn học, chứ không bắt buộc bỗ ích cần kíp làm nền tảng cho lãnh vực văn hoá. Khi chúng ta nhận rằng những cụm từ « tây lai » như cà-phê, nhà ga vẫn đẹp, vẫn dể hiểu, thì vì sao chúng ta lại e dè và chần chờ trong việc dùng chữ Việt theo lối phát âm cuả một số danh từ riêng ? Vì sao chúng ta không dám nói ăng-gờ-le-te thay cho Nước Anh, a-mê-ri-can thay cho Người Mỹ, hoặc ốt-tờ-ra-liêng thay cho Người Úc ? Nhất là một số danh từ chung trong các bộ môn khoa học hiện đại thì việc ngữ hoá Việt rất cần thiết cho sinh viên học sinh. Chẳng hạn, vì sao không dám dùng cụm từ « dit két » thay cho disquette mà phải dùng « dĩa mềm » ? Hoặc « xi-béc-nê-tíc » (cybernétique) mà phải dùng « điều khiển học » ? Thực ra cụm từ « điều khiển học » như đã có trong sách từ điễn Việt nam vẩn chưa đủ nghỉa diễn đạt như trong môn học điện tử!.

Tôi nhớ mải sau tháng 4/75, trên sách báo trong nước có nhiều từ ngữ mới từ miền Bắc cộng sãn nhập vào miến Nam quốc gia. Trong văn chương người cộng sãn đã thay thế nhiều danh xưng rất lạ tai, nghe qua cũng dễ hiểu. Chẳng hạn như danh từ « xưởng đẽ » thay cho « nhà hộ sinh », hoặc « đồng hồ không người lái » thay cho đồng hồ « tự động ». Nhưng khi phát âm những cụm từ « xưởng đẽ » người ta cảm nhận cái thô lỗ, không đẹp, không hợp ý thức thanh tao trong văn hoá Việt, hoặc cụm từ « đồng hồ không người lái » có vẽ dài dòng lê thê, và một ấn tượng máy móc, nặng nề, sắt thép đang đeo trên tay con người, nhất là trên tay người con gái đàn bà. Vì vậy, chẳng bao lâu các cụm từ nầy tự đào thải, chứ chẳng ai thôi thúc hô hào loại bỏ. Trong khi đó việc ăn « mắm nêm » ban đầu thì không thoải mái, nhưng nếu đã quen thì thiệt là khó bỏ qua. Nói khác, văn học dể thâu lượm và dể mất mát, còn văn hoá khó thu vào và thật khó phai.

Hôm nay tại hãi ngoại xin cứ nhìn vào thực tế trong số những người biết tiếng Việt, hiểu tiếng Việt như lớp trẻ chúng tôi, thực ra chưa hẳn là người Việt thuần thục như trong ngôn ngữ cuả các thức giả muốn đề cao. Lắm lúc tôi nghi ngờ và tự hỏi có phải những cơ sở văn hoá Việt nam trong và ngoài nước đã ôm chồm hai lãnh vực văn chương và văn hoá làm một ? Nhiều người học rất cao nghỉa là những người tự cho mình có căn bản văn học, nhưng là những con người bũn xĩn, keo kiệt, hung bạo, thô lỗ...cũng vì họ đã mang trong máu một loại văn hoá bũn xĩn, keo kiệt, hung bạo thô lỗ...chứ đâu phải văn học hay văn chương đã dạy cho họ trở nên những phần tử tồi tệ như vậy. Con người thiếu đạo đức, thiếu thành tín không dính dáng gì với con người tiêm nhiễm một văn hoá mộc mạc, đơn sơ và thuần hậu.

Việc lớp trẻ chúng tôi đọc trôi chảy và hiểu được ngôn ngữ Việt nam, nằm trong môi trường văn học, nhưng việc lớp trẻ chúng tôi thích ăn chã giò chắm với tiêu muối hoàn toàn nằm trong lãnh vực văn hoá. Đây cũng là điều nghịch lý khi các trung tâm văn hoá Việt nam cho rằng đi học chữ Việt sẻ có văn hoá Việt và nước Việt tồn tại như xưa. Chúng tôi đành cam chịu và nhận rằng cái văn hoá cuả lớp trẻ chúng tôi đã đi ra ngoài cái văn hoá cuả lớp người lớn tuổi cùng với Bố Mẹ tôi và những người Việt đang sống trong nước. Nhưng cũng không phải vì lẻ nầy mà có người dám nghỉ rằng tinh thần lớp trẻ chúng tôi lại không thiết tha với Đất Nước cội nguồn.

Tại hãi ngoại tôi đã từng chứng kiến trong nhiều gia đình cuả bạn bè tôi, giửa cha mẹ Việt nam lớn tuổi biết tiếng Việt, hiểu tiếng Việt và con cái trong gia đình Việt nam nhỏ tuổi biết tiếng Việt, hiểu tiếng Việt, vẫn còn có nhiểu khác biệt nhau trong mọi lãnh vực, từ cử chỉ đến hành động ; huống gì người Việt trong nước và người Việt hãi ngoại thì chắc chắn còn khác nhau xa vời. Trước đây tôi có đọc một câu văn cuả triết gia Lương kim Định : « văn hoá Việt nam là chã giò » mà mãi mãi chẳng quên. Bởi lẻ câu văn rất mọc mạc nhưng rất tiêu biểu. Đối với những người mới đến cư ngụ trên đất nước Tây phương thì câu văn đó có thể hiểu theo văn hoá Việt nam là một loại văn hoá « dân tộc tính », khi họ nhìn « mấy cuốn chã giò » về khẩu vị. Là người Việt thì ai mà lại không thích chã giò ! Chã giò muôn năm và muôn năm! Còn đối với lớp trẻ mới lớn lên tại hãi ngoại thì hiểu rằng câu văn đó ngụ ý văn hoá Việt nam là văn hoá « kinh tế tùy tiện ». Họ nghỉ rằng ở đâu văn hoá người Việt cũng cố gắng làm sao cho « hợp khẩu » đại chúng (kể cả người bãn xứ) để phát triễn theo vấn đề cung cầu. Càng có nhiều người ăn thì kinh tế càng mạnh. Như vậy thì ra trong cái văn hoá chã giò thuần túy Việt nam hôm nay tại hãi ngoại đã có khúc ngoặc, chẳng khác nào như dòng sông chia thành hai ngả. Nói khác, lối nhìn cuả người lớn tuổi và lớp trẻ chúng tôi hôm nay có một cái gì trục trặc, bất ổn !

Thực ra quan niệm về văn hoá dân tộc cuả lớp trẻ chúng tôi không quá thô lỗ đến độ phải nhận những lời dèm pha chua chát cuả các bậc lớn tuổi, mà cũng không quá cao xa như qúy thức giã đề ra trong sách báo. Một điều dể hiểu trong sự tôn trọng văn hoá dân tộc là trên làng sách báo có sự đóng góp ít nhiều cuả lớp trẻ. Chẳng hạn, việc tôi đang cố đưa ra ý kiến trong bài nầy, nghỉa là tôi tự nhận tôi là người Việt, tôi thiết tha với tình cảm cuả ông bà cha mẹ Việt nam. Lớp trẻ chúng tôi khẳng định rằng chỉ có những người sinh ra trên đất nước Việt nam, có dòng máu Việt nam mà hôm nay đã hô hào đạp đỗ văn hoá Việt nam là những kẻ đáng chê trách, dù kẻ đó là lãnh tụ đảng phái hay tôn giáo hay trí thức. Người Việt nam mà hô hào phủ nhận công ơn Nguyễn Huệ, Trần hưng Đạo hoặc bà Triệu bà Trưng thì mới đáng gọi là người vọng ngoại, phãn dân tộc. Hôm nay lớp trẻ chúng tôi ước mong mọi tư duy -từ duy lý đến duy tín- nên hỗ trợ nhau, nên thống nhất với nhau, để cùng nhau sống trong văn minh tin học và dân chủ.

Cứ mổi lần có sách báo tiếng Việt từ Hoa kỳ hay từ Úc châu gửi đến, sau khi xem xong Bố tôi thường chỉ chuyển cho tôi đọc. Hình như ý kiến đặc thù đó, Bố tôi còn kéo dài mải mải đối với tôi ! Đây là cái vinh dự mà cũng là cái khỗ tâm cuả tôi, bởi vì trong nhà chỉ có mình tôi biết đọc và biết viết tiếng Việt. Bởi lẻ sau khi tôi đọc xong một số sách báo việt ngữ, tôi có ý nghỉ rằng trong việc hành nghề báo chí giửa người Việt hiện tại người ta đã đặt mục đích cơm áo lên trên tất cả mọi giá trị, kể cả giá trị văn hoá và văn chương. Ngay cả những tập san với danh xưng là « văn học và phê bình văn học », tôi thấy chẳng có gì hợp với mực đích đã đưa ra. Cái tinh thần nầy hôm nay lại được còn tận dụng trong vài cơ sở tôn giáo lớn tại hãi ngoại. Người ta đã không ngại phơi bày trên những sách báo mà còn phô trương tuyên truyền trên những mạng internet. Khác với sách báo Tây phương, hầu như mọi sách báo trong và ngoài nước Việt nam ta mang sẳn « triết lý dật gân »! Đạp đỗ, nguyền ruả, chưởi bới hơn là xây dựng. Họ đánh vào thị hiếu số đông người lớn tuổi ra đi mang theo thù hận. Họ tìm đủ cách cốt để cho sách báo do họ sản xuất được bán chạy mà không cần nghỉ đến văn chương  và lịch sữ. Các ông bà chủ các nhà xuất bản xem văn chương như món ăn « fast food ». Họ chủ trương sản xuất thật mau và khách ăn cũng cho thật mau. Họ không bao giờ nghỉ chuyện thực khách bị bội thực. Các văn gia thì vì sự sinh sống cuả gia đình bắt buộc phải đáp ứng chủ trương cuả nhà sản xut, vô tình họ đang bị bóc lột bởi một loại văn hoá cuả thế giới nhà giàu mà chính họ chẳng hay biết. Hậu quả là lớp trẻ chúng tôi đang bị vây hảm bởi loại văn hoá nầy. Lớp trẻ chúng tôi đang bị lôi trì giửa hai thế lực « văn hoá dân tộc vá văn hoá ngoại lai ». Tôi là một trong những người thanh niên thường tự hào rằng mình biết đọc tiếng Việt, hiểu được tiếng Việt, khi viết bài nầy vẫn bị chập chờn trước mắt một con ma vô hình « văn hoá ngoại lai » mà các bậc lớn tuổi sẻ gán ép oan uổng. Nhưng hôm nay, nhờ văn hoá « tin học », tôi có niềm tin rằng Văn hoá Việt nam không thể ù lì trong khuôn khổ cứng nhắc. Phải thay đổi, phải được thay thế bởi một loại văn hoá nhân bản hơn.

Trong những thông tin và sách báo xuất bản tại Mỹ và Úc, tôi có để ý một loạt bài cuả nhiều tác giả cùng tuổi với Bố Mẹ tôi đã vận dụng chất xám gói gắm khả năng khoa học thu lượm được vào trong tôn giáo. Theo tôi thì đây là một chíến thuật tuyên truyền có ẫn ý phá tan mặc cảm tội lổi những gì đã xẩy ra từ trong nước trước 1975. Tôi cũng không ngờ có nhiều từ ngữ Việt nam xấu xí, hạ cấp, thô bĩ, mà họ đã dám dùng để mạt sát, chưởi bới đối tượng. Tôi không hiểu việc làm nầy có đúng với tôn chỉ cuả các vị sáng lập ra tôn giáo tại nước ta hay không ? Ước gì những bậc thức giả cùng lớp tuổi Bố Mẹ tôi biến những việc nầy thành tình yêu, thành giáo lý từ tâm, thì lớp trẻ chúng tôi sung sưóng biết dường nào ! Cái nghịnh lý sống sượng nhất hôm nay giửa các cộng đồng Việt nam là tại nơi công cộng thì các vị lãnh đạo tôn giáo và đảng phái hô hào đoàn kết, nhưng khi trở về nhà thì mọi đức tính « duy lý và duy tín » biến thành « duy lợi ». Rất nhiều vị đã lợi dụng điểm đứng hiện tại cuả mình quyết liệt cỗ động tín hữu và con chiên ráng cổ chưởi nhau ! Nhiều đảng phái đã núp dưới áo mầu tôn giáo đỗ « thêm dầu vào » nên cộng đồng ngày càng chia rẻ. Tôi thấy nội bộ Phật giáo đã chia rẻ trầm trọng, và nội bộ công giáo cũng thế mà thôi ! Do đó cũng không lạ gì, lớp trẻ chúng tôi đã hơn 30 năm chưa tìm được niềm tin vững chải nào. Việc nầy không phải là huyền bí, mà là một sự thật. Ê chề !

Từ dòng suy tư nầy, lớp trẻ chúng tôi mất đi thế quân bình. Mạnh ai nấy làm. Mạnh ai nấy được. Để rồi mang lấy những sự phê phán chua cay cuả bậc Bố Mẹ. Đây là một vấn nạn giửa cộng đồng hôm nay. Thực ra, lớp trẻ chúng tôi vẫn nhận rằng tầm mức hiểu biết về khoa học cuả chúng tôi còn quá hời hợt. Lớp trẻ chúng tôi không chối cải mọi lý thuyết khoa học đều không bao giờ là kết cục đứng vững đời đời. Vì lớp trẻ chúng tôi ít ra cũng có người đã học qua từ lý thuyết tuyệt đối không gian và thời gian Newton đến những thay thế bởi thuyết tương đối và đặc biệt tương đối Einstein. Lớp trẻ chúng tôi biết rằng sự chống đối về lý thuyết cuả hai nhà hiền tài nầy nói lên sự tiến hoá không ngừng cuả trí tuệ huyền bí loài người. Và khi nghỉ rằng tôn giáo là huyền bí, thì con người dù là bậc trí tuệ siêu phàm đến đâu thì cũng chỉ có thể đi vào chiều sâu trong tôn giáo chứ không bao giờ tìm được kết cục tôn giáo. Mặt khác, xin các bậc Bố Mẹ nên hiểu cho rằng khoa học chưa phải là điều kiện đủ trong các môi trường luân lý. Nhà khoa học có tầm mắt nhìn rộng thấy xa, nhưng nhà khoa học đâu hiểu cho rằng hôm nay « tại ngôi làng Thủ dầu một có nhiều trẻ sơ sinh thiếu tay, thiếu chân hoặc ở vùng Phi châu có nhiều người chết đói. (le Soir ngày 30/11/2001).

Hình như trước những cung ứng vật chất thặng dư cuả một xã hội giàu có lại làm nỗi bật sự nghèo nàn đạo đức nên ít nhà khoa học chưa nhận thức nổi cái đau khổ tinh thần cuả con người. Cũng vì vậy mà Heidegger đã từng đặt câu hỏi « Vì sao con người hôm nay và xưa kia không bao giờ thoả mãn ? ». Rồi ông tự trả lời « Vì Nietsche cho biết rằng có một giai đoạn lịch sữ con người muốn hoàn toàn thống trị thiên nhiên » (Essais et Conférences, bãn dịch Pháp văn, Paris 1958, 122-123).  Mà cũng có thể người ta đã hiểu thiên nhiên (nature) dưới luồng nhản quan cuả Freud, nghỉa là một loại tổng hợp bi quan : « hể là con người thì không bao giờ chống lại được bản tính nội tại ». Nhưng các bậc Bố Mẹ quên rằng khi Freud nói điều đó không nghỉ đến con người cuả thế kỷ hôm nay đã dán mình vào kỷ thuật và đoạn tuyệt hẳn con ngưòi thiên nhiên (homme nature). Con người hôm nay là con người duy lý theo sự « tròng tréo cuả tập thể ». Con người không có quyền đòi hỏi theo tư duy cá nhân. Vì vậy, nạn « chụp mũ » rất được tận dụng, dù dưới bất cứ một văn hoá hay chính thể nào. Trên trường đời hôm nay, cá nhân phải theo những mắt xích cuả đoàn thể. Nếu không, thì cá nhân sẻ bị bóp nát.  Nhưng người ta quên rằng khi mình hướng về kẻ khác là lúc chính mình đã bị trưng dụng phần bản ngã, ít nhất là mình đã mất một cái gì riêng tư. Con người đó đã đánh mất cái cá tính mà cha mẹ đã sinh thành và mất công lao dạy dỗ. Họ muốn tìm cho mình một lối sống nên họ phải bắt chước kẻ khác và nhờ sự giúp đở cuả kẻ khác. Đó là hiện tượng oái oăm cuả xã hội chúng ta.

Ngoài ra trong những năm gần đây, trên báo chí và internet có một vài nhà trí thức khoa học cố gán ép cấu trúc khoa học vào tôn giáo. Người ta đã bạo miệng tuyên bố rằng chỉ có tôn giáo nào hợp đúng với suy nghiệm khoa học mới đáng tôn thờ. Ngoại dĩ là mê tín. Ngu xuẫn ! Sự cỗ xúy nầy vô tình đã gián tiếp hạ thấp tôn chỉ tôn giáo mà chính họ đang thờ phượng. Bởi lẻ, khác với triết lý là lý luận, tôn giáo là đức tin. Triết lý là đề cập đến chuyện nhân tình thế thái « tầm thường » trong xã hội loài người. Trong khi đó, tôn giáo là ý niệm không thấy hoặc là thấy được theo mẫu mực hiểu biết cuả mổi con người.

Theo tôi, con người trí thức trước hết là con người duy lý. Người trí thức cần phải khách quan để đánh gíá hướng đi xã hội. Người Việt nam trí thức nếu quả thật có lòng yêu nước thì không nên vô tình để cho bất cứ ai nhân danh là lãnh đạo, mà làm mất trọng trách vai trò cuả mình . Tôi tin rằng cái hiểu biết « bằng cấp » rất giới hạn và đơn độc. Sự hiều biết bằng cấp có tánh cách phổ quát. Nghĩa là bề ngoài. Không những thiếu chiều sâu mà còn đối với ngay cả những vấn đề thiết thực trước mắt. Chẳng hạn, vị y sĩ toàn khoa (généraliste) không bao giờ là ông y sĩ chuyên ngành (spécialiste). Một anh tiến sĩ địa chất không thể là nhà vật lý thiên văn và ngược lại. Nói khác, sự hiểu biết trong phòng thí nghiệm hoặc trong sự khảo cứu rất giới hạn. Đúng như Socrate đã từng nói rằng « mọi hiểu biết cuả con người đều vô nghĩa » (toute connaissance humaine est vaine). Thực chất cái hiểu biết phổ quát không thể nào sâu xa và huyền bí như trong tôn giáo. Nhưng hình như văn hoá các bậc tuổi cùng Bố Mẹ tôi thì khác hẳn với lối suy tư cuả lớp trẻ chúng tôi. Qúy vị có bằng cấp luôn luôn tự phong cho mình là người lãnh đạo quần chúng, dù bằng cấp cuả Qúy vị rất « xa xưa» không hợp thời. Vì vậy mà hôm nay tại quốc nội và quốc ngoại đã xẩy ra nhiều chuyện xâu xé nhau giửa các cấp lãnh đạo đồng tuổi với Bố Mẹ chúng tôi.

Như trên tôi đã thưa trước với đọc giả là vì tôi vốn sinh ra tại hãi ngoại và lớn lên tại hãi ngoại, nên cái nhìn lối xử trí giửa người Việt, già lẫn trẻ, mà tôi đã trình bày trong bài nầy có thiếu sót! Việc đó xin qúy đọc giả tha thứ. Bởi lẻ mười lăm năm qua, tôi chỉ được học mổi ngày một chữ Việt. Tôi chưa hiểu thấu đáo văn nghĩa tiếng Việt, chứ tôi không đứng trên quan điểm một tôn giáo hay một phe phái nào.

Nhìn những sự kiện trong cộng đồng, trong ký ức tôi là cả dòng thác lũ. Đôi khi tôi tự hỏi « Có lẻ nào vì mình biết tiếng Việt nên đã đánh mất cái sống hồn nhiên như bao thanh niên cùng lứa tuổi? » Rồi một phản ứng xẩy ra trong trí óc : « Thà mình đành chịu sống cô đơn trong một xó nhà tranh, còn hơn là sống chung trong biệt thự nguy nga với những người mưu mô nham hiểm ! ». Bên cạnh những ý nghỉ tiêu cực đó, tôi vẫn cầu mong cho những ai còn mang trong tim dòng máu Việt tộc, già lẫn trẻ, hảy nhìn về tương lai để giúp đở nhau cùng sống kịp với đà văn minh nhân loại.

Lê Hoàng Võ Ánh.