Ba Cay Truc

  • Tăng kích thước chữ
  • Kích thước chữ mặc định
  • Giảm kích thước chữ
Chào Mừng Bạn Đến Với Trang Báo Điện Tử­ Ba Cây Trúc **** Mọi bài vở và thư từ xin gởi về bacaytruc@gmail.com**** Có hiểu mới biết thương, có thương thì mới trọng, có trọng thì mới biết giữ gìn ****

Unicode 20: Thử nêu lên và nét tư tưởng triết ly Phng thai An vi

Email In

Thử nêu lên và nét tư tưởng triết ly

trong Phong thái An vi cuả Kim Định (*).

Lê Hùng, Bruxelles.

Vài lời nói đầu.

Gia tộc AnViệt Toàn cầu vừa có nhả Ỷ gửi tặng tôi quyển sách nhan đề Phong thái An việt cuả triết gia Kim Định. Thực ra, quyển sách nầy chính tác giả là linh mục Lương kim Định đã biếu tôi nhân khi gặp gở Ngài ở Luân đôn trước năm 1989. Nhưng sẳn đây, tôi cũng muốn nêu lên vài nét tư tưởng triết lý chính yếu trong quyển sách, trước là cám ơn  Cụ Kim Định và quý Vị, sau cũng muốn cùng độc giả thưởng thức lối sống cuả tiên tổ người Việt chúng ta, còn theo được hay không theo nỗi ỡ triết lỶ sống ữ nầy, còn tùy thuộc vào hoàn cảnh và tri nghiệm cá nhân.

Luận đề quyển sách nằm trong hai chữ Phong thái. Phong là gió, Ỷ nói dáng dấp nhẹ nhàng như gió bay từ nơi này đến nơi khác, nhưng phải hiểu chữ ỡ thái ữ như thế nào cho hợp với Ỷ tác giả? Muốn vậy chúng ta nên độc bản tựa quyển sách khi tác giả viết : ỡ Đến quyển nầy sẽ khai triển... Đây cũng là một đức tính rất cao sâu trong đòi sống Việt cần nhận thức ra.(trang 5). Suy ra chữ ỡ tháiữ không có nghĩa là nhiều quá, cao quá, như khi nói chổ tuyệt đĩnh Thái âm (mặt trăng) hoặc Thái dương (mặt trời), mà ỡ tháiữ mang Ỷ nghiả là một đức tính, một thói quen, hàm Ỷ nói lên một thái độ (une attitude). Tóm lại Phong thái phải hiểu là ỡ nên có Thái độ nào cho cuộc sống con người được Phong lưu ữ . Vì theo tác giả, trong cuộc sống có phong lưu thì đời con người mới tràn đầy, mới hạnh phúc.

Ý chính cuả Cụ Kim Định là mời chúng ta cùng nhau khai quật triết lỶ nhân sinh cuả tổ tiên Việt tộc, hảy sống như ỡ gió thoảng trên không (phong), như nước chảy giửa dòng  (lưu)ữ . Nhưng vì sao Cụ Kim Định lại bỏ công sức nói đến sống cho ỡ phong lưu ữ trong thời buổi ỡ làm ngày không đủ tranh thủ làm đêm ữ nầy ? Vì sao lại đề cập đến hai đức tính ỡ tự tác và du hí ữ trong một xã hội duy ỡ tiền tài và lợi lộc ữ nầy ?  Đó là những nét tư tưởng khá đặc biệt trong ỡ Phong thai An Vi ữ, một tác phẩm cuả toàn bộ sách triết lỶ An vi, mà tôi xin tuần tự ước giản theo dàn bài cuả tác giả đã vạch sẳn.

Phần 1. Biết Người.

Sự Biết (le savoir) là tổng hợp tất cả kiến thức (diễn Ỷ qua ngôn từ) và tri thức (kinh nghiệm thực tế)  trước đối vật và những phương pháp khoa học đã tạo nên môi trường lịch sử sự phôi thai và phát triễn cuả đối vật đó. Nói khác sự biết chẳng phải chỉ có nhìn (regarder), thấy (voir) mà còn phải bao hàm cả sự phân tích (analyse) đối vật để cùng chia sẽ và thưởng thức những cảm quan với tha nhân. Nhìn và thấy là cách trí tri bằng tin trọn vẹn vào tai mắt, nói theo triết lỶ là chúng ta mới thấy được vòng ngoài cuả sự vật, chưa đạt được vòng trong là phần Vô, phần không thấy, không nghe, phần linh cảm còn gọi là phần Tâm linh. Có biết cả ngoài lẫn trong như vậy sự biết mới đúng nghĩa, vì nó gắn liền mình với đối tượng cả Trong lẫn Ngoài, cả Có lẫn Không.

Thực ra xưa nay trong đạo làm nguời còn có nhiều vấn đề chưa được giải quyết, bởi lẽ con người chưa hiểu biết cách thấu triệt về con Người toàn diện. Trong Nho giáo có câu "Tri nhân tắc triết" tức là biết về con Người, con người chính mình và con người nhân loại. Với cái biết "con người không phải là con vật, cũng không phải là cỏ cây" , hoặc đi xa hơn nữa có vài định nghĩa rằng "con người là con vật có tôn giáo, con vật có chính trị, con vật thích hợp quần, con vật biết suy lỶ, "...đó chỉ là những cái biết hời hợt về bên ngoài cuả con Người. Cái chưa biết trọn vẹn! Do đó, câu định nghĩa về con Người đúng đắn hơn phải hàm chứa chữ Linh còn gọi là Thần, với chiều kích vô biên như trong sách Việt Nho đã phổ biến: "Nhân linh ư vạn vật". Linh hay Thần không ở hẳn nơi nào, nên không đâu không có. Nói khác, Linh hay Thần có thể ở khắp nơi, ở khắp trong vũ trụ, đúng như câu nói con người là Đại Ngã Tâm Linh mà Việt Nho đã phân ra hai phần Tiểu Ngã và Đại Ngã.

Tiểu Ngã là phần con người bị giới hạn trong khía cạnh vật lỶ và tâm lỶ, nghĩa là cái biết hời hợt rằng con người là con vật biết sống theo bản năng (ăn uống nói cười, cân đo thân hình nặng nhẹ, suy lỶ xét đóan). Đại Ngã là con người không có biên giới đóng khung, con người to lớn bằng vũ trụ như trong câu "vũ trụ chi tâm", có nghĩa là tâm con người như vũ trụ. Câu nói ví von nầy độc sơ qua xem như khóac lác, nhưng độc giả định tâm mà nghiệm là thấy ngay. Từ đây con người được nâng lên ngang hàng với Trời và Đất, còn gọi là tam tài Thiên-Địa-Nhân, khi căn cứ vào thuyết Vạn vật Nhất thể mà phân tích. Nếu Thiên là một Tài và Đất là một Tài, thì Nhân cũng là một Tài. Năng khiếu con Người phải được so sánh với Trời và với Đất, bởi lẽ con người cũng có cái tài Tự Tác, con người tự nó làm ra, tự nó dựng nên. Ngoài thiên năng dành cho vạn vật, con người có một loạt cơ năng đặc biệt là Ý, Tình và Chí. Đây là những đặc tánh cho sự Tác Hành chỉ có nơi con người, chứ không có nơi con vật.

Thật vậy, nay thử đem so sánh con người với loài vật, về sắc đẹp thì còn thua chim cá, về tài năng thì còn thua loài ong kiến, về sức mạnh thì còn thua hỗ beo, về sinh sản thì còn thua loài heo chó. Tóm tắt con vật hơn hẳn con người trên những phương diện đó. Nhưng thử xem qua hàng triệu năm nơi súc vật chẳng có gì thay đổi cả về lượng, về phẩm, lẫn hiểu biết và mỹ thuật, bởi lẽ con vật là sản phẩm thiên năng. Trái lại, chức thiên năng nơi con người được vận dụng bởi lỶ trí, tình cảm và Ỷ chí. Đây là những cơ năng để con người có khả năng đóng góp, có khả năng trở thành một "Tự Tác năng". Con người hơn con vật ở một chổ mà không con vật nào có được, đó là "tự mình làm lấy hết mọi chuyện cho mình". Tự làm nhà cửa để trú ngự, tự trồng tỉa để sinh nhai, tự chế biến thuốc men để ngăn ngừa bệnh tật...Không có gì mà con người không tự làm ra, tự đóng dấu vào và lại biến đổi theo ỡ văn sức ữ con người, một đức tính văn hoá không tìm thấy nơi súc vật. Cho nên trong dân gian đã có câu: "Ta cùng Trời Đất ba ngôi sánh. Trờ Đất Ta đây đủ hoá công".

Hoá công nên hiểu theo nghĩa là làm-ra-cái-gì-mới-mẻ mà trước đó không có, và con người cũng có thể gọi là Hoá công vì đã tạo dựng ra những cái mới mẻ như vậy. Chẳng hạn, các giá trị luân lỶ, nghệ thuật, khoa học, kỹ thuật...là những cái riêng cuả con người, là hậu quả cuả việc con người tham dự vào những cái cần thiết, nếu không làm ra nó thì cũng phải làm phần nào đó, như cách đóng dấu cuả mình lên trên. Ngoài ra con người còn khả năng vô biên là "cảm thông tham dự" cùng Trời Đất. gọi là "tham thông". Với con vật, trời sinh voi thì trời phải sinh cỏ cho voi ăn mà sống, chứ với con người thì không hẳn thế. Con người không ngồi chờ Trời Đất ban phát sẳn thức ăn mà sống, mà con người phải tham dự với Trời Đất để tiến lên trong việc làm mà sống, đúng như câu "nhân linh ư vạn vật". Từ đá đẽo, qua đá mài, tiến lên đồ đồng, đồ sắt, rồi qua kỷ nghệ, công nghệ, hậu công nghệ v.v. Cứ từng bước một đều do con người làm ra cả.

Khi nói đến Trời, Đất, Người là Tam Tài, thì nên theo Việt Nho mà hiểu rằng Ba Tài nầy không bằng nhau trong "Bản thể" (état primitif) mà chỉ bằng nhau về đức tính "Tự Làm" (état d'action). Nói khác, cả Ba Tài cùng hiệp sức tham dự trong tác động làm nên "thiên địa vạn vật nhất thể" (tout soit un).Tam Tài đặt con Người ngang hàng với Trời và Đất, để con người làm quen dần với Ỷ nghĩ lớn lao về chính mình. Phải có sự suy nghĩ ấy mới dẫn dắt con người vào đúng vị trí cuả nó, mới hiện thực được đức tính cuả mình là ỡ tác ữ (làm), tự tác (tự mình làm). Đây là phần cốt lỏi cuả triết lỶ An Vi trong quan niệm về con người. Đứng trên phương diện hàng ngang (tức là xã hội) thì triết lỶ An Vi chủ trương khác biệt với những triết lỶ độc ỡ Tài ữ hoặc độc ỡ Thần ữ chỉ ưa những định nghĩa hèn kém về con người. Từ những thuyết đó con người làm quen với Ỷ niệm tự ty, con người bị lung lạc mới dễ bề suy phục. Còn đứng về phương diện hàng dọc (tức là tâm linh), thì triết lỶ An Vi chủ trương cái tài tự tác hành, tự làm như Trời Đất tài bồi óc tự động con người, tự đảm lấy trách nhiệm đặt đễ độc lập, không để cho con người rơi vào thuyết Định mệnh (tất cả đều do mệnh số cuả Trời Đất). Quan niệm tự tác hành nầy giúp con người giữ được nhân chủ tính cuả mình. Triết lỶ An Vi là dụng cụ đả phá những quan niệm con người thấp kém, con người nhu nhược vô tình cột chết mình vào chỗ tầm thường, lôi kéo con người ở lì lại tầng thấp bé thiếu cả hạnh phúc.

Cái tài tự tác hành, tự làm là tiêu chuẩn hiệu nghiệm để quyết định thái độ. Càng ngày con người càng nhận thức ra sự cần thiết phải có ăn uống, có truyền sinh, có yêu thương, có bè bạn,... tương đối hoá luân thường, dân chủ hoá tôn giáo và dân chủ hoá quyền cai trị. Bởi thế nên ngày nay lương tâm con người không thể chấp nhận những Ỷ nghĩ về vua thần nữa, không có thiên mệnh, không có rồng chầu vua. Đó chỉ là những thứ bịa đặt có hệ thống, những giả tạo giúp kẻ chuyên chú tước quyền làm người cuả con Người. Đây là quan niệm hết sức thực tiễn giúp con người đóng góp sức lực cuả mình vào mọi cơ cấu xã hội bằng tác động cùng cực, bởi lẽ tác động là bản tính con người.

Con người là tác động. Con người có chiều kích vô biên thì tác động cũng nằm trong chiều kích vô biên. Khi tác động đi đến cùng cực là khi con người đạt đến sáng tạo. Sự sáng tạo là sự hiểu biết cái gì tự mình tạo dựng lấy. Đây là cái biết cùng cực cuả sự vật, còn gọi là ỡ cách vật ữ. Chính cái biết tự làm ra, tự dựng nên sự vật nầy đã đưa con Người ngang hàng với Trời Đất và chính đây mới gọi là Biết Người.

Phần 2. Cứu cánh cuộc đòi.

Cứu cánh là cùng đích rốt ráo cuả cuộc đời. Bàn về cứu cánh là luận xem đời sống có mục tiêu chăng. Đó cũng là đi tìm xem đời sống con người có Ỷ nghĩa chi chăng. Nếu không, cuộc sống sẽ thiếu hướng đi. Nếu sai, cuộc sống sẽ hướng vào nơi hư hỏng uổng phí một cuộc đời. Nếu đúng, cuộc sống sẽ quy tụ mọi hành vi cử chỉ vào một hướng, đem lại cho đời sống một Ỷ nghĩa, một hăng say, một sứ mạng. Từ đây diễn ra 3 loại người sống :

Trước hết là loại người sống không bao giờ đặt vấn đề, chỉ biết sống là sống vậy thôi. Sống cho sinh lỶ, sống vì bản năng thiên định, không cần tra hỏi xa hay rộng. Đây là lối sống cuả hạng người không có Ỷ thức và không cần phải có lương tâm. Thứ đến là loại người sống duy tôn giáo thường đặt cứu cánh cuộc đời sau khi chết ở trong thế giới bên kia, dù cho sự vụ nhiều khi làm ngáng trở sự phát triển cuộc sống hiện tại. Đây là lối sống cuả hạng người chỉ biết sống duy con tim cuả mình thúc đẩy, không dính dáng gì với tha nhân. Loại thứ ba là loại người cố đi tìm cứu cánh con người tại thế có thể kiểm chứng theo tin thần khoa học. Cứu cánh loại người nầy là sự ngắm nhìn lỶ giới, xem lỶ giới là mẩu mực. Con người chỉ trở nên con người tốt khi nó nắm được sự thật, mà sự thật đó phải được quan niệm là sự trùng hợp giữa lỶ trí và sự vật. Suy rộng ra cứu cánh cuộc sống làm cho con người nên tốt tức là làm cho con người giống như sự vật. Như vậy vấn đề vẫn chưa giải quyết ổn thỏa trước câu hỏi cứu cánh cuộc sống con người ỡ bằng xương và bằng thịt đang sống ở đây và bây giờ ữ.

Nay chúng ta cứ quan sát theo đường lối lương tri công cảm nghĩa là chỉ dùng cái trí thức và cảm giác con người vốn không cần phải suy nghĩ hay học tập, để tìm một giải đáp sao cho hợp với Ỷ nghĩ thông thường cuả mọi người, từ Đông đến tây, tự cỗ chí kim, thì bất kỳ ở đâu và bao giờ ai cũng hướng tới cuộc sống no tròn. Ví như người khi trồng cây thì muốn hoa trái sum xuê, khi nuôi súc vật thì mong sao cho nó béo tốt, sinh sản đến cỡ tối đa, khi bắt tay thực hiện một công trình thì mong sao đạt được trình độ hoàn chỉnh cao nhất. Đây là quan niệm phổ biến thường bắt gặp trong những quan niệm về nguyên ủy con người, dù con người đó do Thượng đế tạo dựng nên (Adam) hay là sản phẩm từ cuộc tiến hoá trong vũ trụ (Khỉ đôộc). Tóm tắt cứu cánh con người trong cuộc sống hiện tại trên đời nầy là phải làm thế nào xây dựng được hạnh phúc cùng cực có thể cho mình và cho đồng loại.

Có điều cần thận trọng là cái biết cuả lương tri thường bị dẫn dụ sai đướng, chưa đủ nói lên cách mạch lạc có hệ thống thấu triệt về cứu cánh cuộc đời. Lương tri thường bị đè bẹp bởi các thế lực khác với bản tính con người. Vì đứng hẳn ngoài bản tính con người, nên thay vì sống theo những nhu yếu, những mệnh lệnh cuả chính bản than mình, thì lương tri lại cố gắng đi theo một mệnh lệnh xen ngang, mà triết gia người Anh, Francis Bacon gọi là ngẫu tượng (idols), và ông đã đưa ra 4 ngẫu tượng chính mà con người cần phải vượt qua :

1. Ngẫu tượng thị nhãn (idols of tribe). Con mắt thấy thực nhưng bị uốn nắn bởi trí óc. Rồi trí óc lại bị nhuốm mầu tình cảm theo sở thích, hoặc theo luật ỡ tiên chiếm giả đắc ữ nghĩa là cứ nghe nói hoài và ngấm vào tâm trí.

2. Ngẫu tượng hang động (idols of cave). Con người thường có khuynh hướng giải nghĩa những điều mình học theo Ỷ riêng mình, tức là lấy ánh sáng một phần mà soi vào cái toàn thể. Việc nầy gián tiếp đỗ khuôn tất cả theo một hình thái nhỏ bé, chẳng khác nào như người ngồi trong hang động chỉ có thấy một hình bóng sự vật.

3. Ngẫu tượng thị thành (idols of market). Trong ngôn ngữ có 2 điều rất nguy hiểm. Một là nó có tính đàn hồi để uốn nắn theo Ỷ muốn cuả mình. Vì cái tính nhập nhằng đó mới có câu cuả thời nay ỡ nói vậy mà không phải vậy ữ. Hai là nó làm cho người ta tưởng nó là sự thực, cũng như người ta tin nó có ma lực  sai khiến quỷ thần, qủy ma, sự vật...như trong khoa niệm chú chẳng hạn.

4. Ngẫu tượng sân khấu (idols of theater). Đây là những hệ tư tưởng, những lỶ thuyết nằm ngổn ngang trong tâm thức không cho thấy được sự thực. Chính những lỶ thuyết đó giam hảm kinh nghiệm, nhiều khi còn khinh rẻ kinh nghiệm con người. Lối duy tư ỡ hồng hơn chuyên ữ trong giáo đièu cộng sản là một tỷ dụ.

Đi xa hơn cái biết lương tri công cảm thì từ xưa đã có 2 trết lỶ đối nghịch nhình về con người. Một bên là Tâm linh, một bên là Luận lỶ. Theo duy lỶ thì con người chỉ có một chiều kích gọi là Tiểu ngã. Dù xác nhận rằng con người có phần linh hồn, nhưng linh hồn cũn còn bé nhỏ như thân xác, cũng còn bị buộc chặt trong hiện tượng Ý niệm (tai, mắt mủi...) thâu vào trong tâm trí rồi sau đó được lỶ trí xếp đặt cho thành hệ thống tôn xưng lên là Ý Thức Hệ. Trong khi đó, phái Tâm linh lại quan niệm con người có 2 đợt là Tiêu ngã và Đại ngã. Tiểu ngã chuyên hiểu biết bằng Ỷ niệm, tức là sản phẩm cuả tai, mắt...Thật ra đó là những cái nhỏ bé dần dà chồng chất vào tâm trí chắn cả con đường tâm linh, nên con người chỉ nghe được tiếng nói cuả Tiểu ngã và vô tình nhìn sự vật qua Ý hệ (lỶ luận) hoặc Bái vật (tình cảm).

 

Để khoả lấp hai triết lỶ xa xưa đó, hôm nay triết lỶ An Vi chủ trương minh bạch rằng cứu cánh cuộc sống con người là Hạnh Phúc Miên Trường cho cá nhân và cho mọi người. Nội dung Hạnh Phúc không đặt ở xa mà phải ở đây và bây giờ, có thể tóm tắt vào 5 chữ Phú, Qúy, Thọ, Khang, Ninh. Đây là tiêu chuẩn thiết thục nhất vì nó đi sát với thực tại với cuộc sống và triết lỶ về cuộc đời trở nên giản dị nhất. Hể lỶ thuyết nào dạy những điều trái ngược với Hạnh phúc con người, thì ta nên xem nó là giả dối, giả tạo. Đó chỉ là lỶ thuyết đặt tiêu chuẩn trên ỡ Chân ữ mà quên 2 phần ỡ Thiện và Mỹ ữ. Chính đây là sơ hở căn bản trong lỶ thuyết Duy tâm, bởi lẽ khi muốn con người trở nên tốt cần phải có chân lỶ, mà chân lỶ thì phải hướng tới sự vật. Đó là con đường tế vi dẫn đến chỗ tha hoá, vật hoá con người. Trái lại, nến lấy Hạnh phúc con người làm cứu cánh thì phải hướng đến con người toàn diận, nghĩa là không những bằng lỶ trí (lỶ luận) như trong sự thật mà bao gồm cả tình, chí, tâm, can, tỳ, phế. Như vậy mới tìm ra được con đường trung thực cuả ỡ chân, thiện, mỹ ữ. Ta không thể biết trực tiếp bản tính đó là gì, nhưng nếu nó làm cho ta hạnh phúc thì ta biết chân thiện mỹ đó đúng với bản tính cuả ta.



 

Phần 3. An Vi siêu tượng.

Siêu tượng là vượt ra ngoài hình trạng, vượt lên trên cái hữu hình. An Vi siêu tượng là nền triết lỶ vượt ra ngoài hình và tượng, vượt lên trên cái gì còn gọi được là hữu hình. Bởi lẽ xưa nay mọi triết lỶ đã đặt cứu cánh con người d?ng ra bên ngoài lối sống hiện tại. Như thuyết duy tâm cuả Platon chẳng hạn, cứu cánh cuộc đời là ngắm nhìn lỶ giới; có sống theo mẫu mực lỶ giới con người mới nắm được sự chân thật, và sau đó mới có thiện mỹ. Do đó, sự thật được quan niệm là sự trùng hợp giửa lỶ trí và sự vật, khi có sự trùng hợp thì là thật, là tốt. Suy ra cứu cánh cuộc đời là sự làm con người trở nên tốt tức là làm cho con người giống sự vật. Điều nầy chưa trả lời cho cuộc sống bằng xương bằng thịt hiện tại ở đây và bây giờ. Từ đây cuộc sống con người thiếu hẳn Ỷ nghĩa.

Như trên đã nói con người là tác năng, cái gì cũng tự con người làm ra, trong đó có hạnh phúc là cứu cánh cuả cuộc đời. Muốn có hạnh phúc thì tác năng phải hợp với bản tính con người, mà bản tính con người thì bao la như vũ trụ, do đó hạnh phúc cũng phải vô biên. Để nhận thức cái vô biên ấy, trong triết học lấy khoa siêu hình làm nền tảng. Điều cần nhớ là nền tảng siêu hình phải hợp với bản tình con người là tác năng và vô biên. Nói khác, siêu hình chỉ trung thực khi nó giúp cho con người tự hiện thực lấy cái chiều kích vô biên nọ, vì con người bao giờ cũng hoạt động theo hướng dẫn cuả tâm thức, tự nội xuất phát, chứ không do lỶ thuyết ngoại khởi. Vì thế phải tìm cho ra một một nền siêu hình hổ trợ con người hiện thực bản tính cuả nó. Bản tính con người có hai đặc điểm là Hành Tác Tính (activitude) và Vô Biên Tính (infinitude). Do đó, nó đòi hỏi một siêu hình đi qua một quảng đường dài mà Việt Nho chia ra bốn bậc: Vô Hình (lỶ trí), Vô Tượng (mắt), Vô Thanh (tai), Vô Xú (mủi). Có như vậy mới đạt được Đại Ngã và có đạt Đại Ngã mới đạt Hạnh Phúc miên trường, tức là cứu cánh con Người.

Như vậy siêu hình phải là vô hình mà đồng thời vẫn tác động. Xưa nay các triết gia đã đưa ra cái siêu hình giả dối, bởi lẽ cái hình nói vắng mặt lại được đại diện bằng tưởng tượng, tức là còn cái hình trong lỶ trí mà quen gọi là tượng Ỷ. Chẳng khác nào như khi ta muốn ỡ siêu ữ cái ghế hay cái bàn lên khỏi ỡ hình ữ, thì ta cứ tưởng tượng trong trí thế nào là cái ghế hay cái bàn rồi, nhưng đó mới cái siêu-hình-vật ở đợt một mà chưa đạt được bước hai là siêu-tượng-Ỷ, bởi lẽ Ỷ niệm cái ghế hay cái bàn là tượng Ỷ chưa vượt qua được con mắt lỶ trí. Đó là cái vô hình hữu tượng ở đợt tiểu ngã, không vươn lên được đại ngã, nó bắt con người cứ xoay quanh bái vật, nghĩa là không bao giờ thoát khỏi hữu hình. Nhưng khi chối bỏ cỏi hữu hình thì đã có nhiều nhà đạo pháp đề nghị là đừng để bận tâm vào thế giới sự vật. Cứ quên phắt đi là yên chuyện, khỏi phải mất thì giờ! Cứ cho rằng thế giới trước mắt là huyền ảo, là bào ảnh, là maya. LỶ thuyết nầy đã dẫn đến vô vi đối nghịch với hữu vi, tức là không làm, trái với bản tánh con người là làm (actionner), là tác (oeuvrer), là vi (travailler). Như trên đã nói cái triết lỶ nào không hợp với bản tính con người là chưa đạt đến hạnh phúc, tức là chưa đạt đến cứu cánh con người. Nói khác, triết lỶ Vô vi không thể đem Hạnh phúc miên trường cho con người. Nhưng trong triết lỶ suy niệm, còn gọi là Ỷ hệ, là bước siêu vượt đầu tiên thoát ra khỏi vật thể hữu hình, lại thường bị ràng buộc trong bái vật. Nó giúp con người không còn vì tình cảm hối thúc lo sợ thần tiên, ma qủy... mà chỉ căn cứ vào Ỷ niệm cuả sự vật cách khách quan.

Bảo rằng Ỷ niệm là khách quan, nhưng Ỷ niệm chỉ là tượng Ỷ, là hình ảnh sự vật trong lỶ trí, nên khi bám vào tượng Ỷ tức là bám vào sự vật. Dấu hiệu bám vào gọi là Ỷ hệ, đó chính là hệ thống các Ỷ niệm chối bỏ những gì giác quan không cảm thấy. Nói khác Ỷ hệ đóng khung cỏi vô biên, đánh mất bao-quát-tính (englopant) con người và nằm lì ở tiểu ngã. Mặt khác đặc tính Ỷ niệm là nằm lì nguyên chất, thiếu hẳn tánh năng động. Nó ví như hình chụp, chụp sao còn vậy, nhìn hình chụp lúc trẻ nay đã gìa mà vẫn còn thấy trẻ! Vậy Ỷ hệ và bái vật đều là những trở ngại lớn rất khó thoát vượt, vì đã lâu đời con người bị chế ngự bởi triết học duy niệm, con người tuyệt đối hoá Ỷ niệm, không thể tiến thêm lên. Muốn vượt qua khỏi Ỷ hệ chúng ta phải tìm cho siêu hình một nền tảng thực sự siêu hình, siêu giác, nghĩa là mắt không thấy, tai không nghe, mủi không ngửi và đồng thời có bản tánh tác động mạnh mẻ và phổ biến, tác động khắp nơi không ngừng nghĩ.

 

Cũng theo lương tri công cảm cái tính con người đã sống trong lịch sử trải dài là tự nội xuất phát, chứ không do lỶ thuyết ngoại khởi, thì chỉ có Thời gian mới trả lời đầy đủ được hai điều kiện Vô hình và Tác động. Vì với con mắt không ai thấy được Thời gian, nhưng Thời gian lại tác động không ngừng nghĩ, hết đêm đến ngày, hết trưa đến tối, hết xuân đến hạ, hết thu đến đông. Siêu hình đặt trên thời gian thì ắt phải mang theo quan niệm mênh mong về con người, bởi lẽ người là đức cuả trời cuả đất chung đúc lại mà làm ra. Đức Đất là những công việc làm ăn, những hành vi ngôn ngữ cụ thể nhỏ bé nằm trọn vẹn trong đức Trời (ba trời hai đất) bao la bao bọc, tạo nên con người có tâm hồn phóng khoáng không bị tù túng trong giới mốc cuả cưởng hành và lợi hành. Nó thường để lại những dấu vết trong Từ, Tượng, Số, Chế, qua bao kinh nghiệm cuả con người lịch sử, mà theo Việt Nho gọi đó là Minh Triết (sagesse). LỶ tưởng cuả siêu hình đặt trên chữ Thời là lối sống trọn vẹn có thể gọi là hiện tại miên trường: Hiện diện ở đây và bây giờ, tức vừa cụ thể (ở đây) nhưng lại bao trùm cả trường cửu (bây giờ). Đấy là một cử chỉ gọi là an vi, vì nó không bị bó buộc vào một mục tiêu nhỏ hẹp, nhưng theo cái mẫu mực lớn lao mà văn hoá Việt gọi là Hồng Phạm. (xin xem thêm chữ Thời trong triết lỶ An vi, Kim Định).

 

Hồng phạm là cái gương mẫu (luật) cao cả rộng lớn vô biên được tượng trưng (cơ cấu hoá) bằng một cái trù (ô vuông), gọi là tỉnh (giếng chứa nước). Cái tỉnh nầy nằm giửa tất cả 9 ô vuông nhỏ cùng chứa trong một hình vuông lớn, nên còn gọi là Hồng phạm Cữu trù (mang Ỷ nghia đạo lỶ dành cho người dân sống trong 9 cỏi ô vuông) . Mối trù là một ô vuông gồm có 4 bờ cỏi. Nếu tách rời 8 ô xung quanh ra, thì bờ cỏi cuả ô (trù) ở giửa (tỉnh) biến mất (Vô). Vì thế cái ô (trù) chính giửa gọi là cỏi vô biên giới, cỏi vô cùng tận. Chính sự vô biên đó mới đem lại cho con người hạnh phúc chân thực mà Việt Nho gọi là Việt tỉnh, tức là cái giếng thiêng liêng luôn chảy nước ra linh nhuận mọi việc. Việc nào làm theo hướng đó thì trường tồn, mới gây được hạnh phúc. Do đấy, trong huyền sử Việt mới có truyện Việt tỉnh cương, nói đến đạo lỶ và những mẫu mực về hạnh phúc cho con người.

 

Chối bỏ văn hoá, tức là chối bỏ cái miên trường, bởi lẽ khi nói đến văn hoá là nói đến những dạng thức đã được nhiều người noi theo một quảng thời gian dài, cái gọi là kinh nghiệm. Tuy nhiên có mối nguy hiểm trong miên trường, đó là sự bóp chết những luồng hứng khởi, những sáng tạo đột khởi tự nhiên, những đạo quân tiền phong trên con đường tiến hoá nhân loại. Nếu ta tự ví mình với người đi bắt cá trên sông thì những ngẫu hứng, những trực thị là những đàn cá, nếu ta từ bỏ những đột sáng, hứng cảm đó tức là ta từ bỏ không đi bắt cá. Đó là tội những người câu nệ, cố chấp, bám chặt vào luật tắc khuôn phép. Nhưng nếu ta đi bắt cá mà không có những dạng thức cái giỏ đựng cá, thì hoá ra ta chỉ lo bắt cá mà không lo giử cá. Cho nên đáng gọi là miên trường, khi nào thể hiện được cả hai phương thức: vừa giử được phương thức mẫu mực vừa đón nhận những luồng sáng tạo mới. Đó là bài toán mà triết lỶ An Vi đã đưa ra giải quyết tiên thiên lỶ thuyết với 3 nguyên lỶ chỉ thị bằng các số 2-3-5 và số 9 dùng làm quảng diễn như sau:

1. Số 2 chỉ sự tương quan giửa 2 hạn từ (termes) có độ sâu nhất là giửa Có và Không rồi thứ đến là giữa Động với Tĩnh, bởi lẽ khắp vũ trụ, không vật nào nằm ngoài sự giằng co đối chọi như trắng với đen, sáng với tối, trời với đất, cứng với mềm, tiểu với đại, đực với cái... mà xưa nay các triết lỶ duy niệm đã diễn đạt. Trong các triết thuyết đó không có tương-quan động-tĩnh (relation actif-passif), không có tương-duyên (relation fluide) mà chỉ có hoặc duy-động hoặc duy-tĩnh, vì vậy nó chỉ có tiểu ngã mà thiếu mất đại ngã. Đó là cái biết bên ngoài thường bắt gặp ở đợt lương tri thường nghiệm (connaissance populaire) không nâng lên bậc nguyên lỶ, không nâng lên bậc cơ cấu như triết lỶ An Vi. Vậy số 2 là nét song trùng làm căn bản mở đầu cho mọi đức tính khác, nó đặt con người vào một tình trạng khó khăn trong hành động sao cho hợp với bản tính tác hành và vô biên. Nếu nghiêng sang một bên tức là làm mất nhân tính, nghĩa là không đạt được hoặc tiểu ngã hoặc đại ngã. Đây là điều thường bắt gặp trong các triết thuyết duy tâm và duy vật, bởi lẽ bản chất "duy" là nguyên lỶ đồng nhất (chỉ có một mà thôi).

2. Số 3 đem sự biến động đặt vào con người, nơi thâm sâu đến độ sự biến động trở nên tính chất nền móng cuả con người. Cũng như Trời và Đất là hai hạn từ hay là hai đối cực bất động, nay đặt con Người biến động làm tương quan, thì cả ba tài trở nên một nền tảng, như trong thuyết Tam Tài đã ghi đậm nét: Thiên-Địa-Nhân. Con người trở thành tác nhân như trời đất, cả ba Trời Đất Nguời đã hội thông cùng tham dự với nhau mà Việt Nho gọi là Tham Thông. Chẳng khác nào như Trời Đất cho con người thịt cá để ăn, thì con người cũng cần tham dự vào để biến chế chiên, xào thịt cá sao cho thức ăn trở nên ngon lành. Nhân chũ trong thuyết Tam tài là ở tại chỗ tham dự tùy nơi và tùy thời. Một việc tốt là một việc do con người làm ra ở một lúc xứng hợp, trong một nơi thích đáng nghĩa là một việc đúng với thiên thời, địa lợi và nhân hoà. Người tốt là người nghĩ tốt cho mình và luôn cho kẻ khác. LỶ tưởng là cảm thức được nhân loại tính ở cùng khắp nơi mà con người xem như là phận sự bắt buộc phải tham dự (vũ trụ nội mạc chi phận sự) cả Ỷ, tình và chí cách thành khẩn, chứ không nên ngồi đó mà trách trời, trách đất, trách người (bất oán thiên, bất vưu nhân).

3. Số 5 là do câu "Tham thiên lưởng địa như Ỷ số" trong kinh Dịch (3+2=5). Đây là bộ phạm trù lớn lao cụ thể hoá cuả thời gian và không gian mà quen gọi là Ngũ hành. Chính Ngũ hành đã cụ thể hoá hai từ ngữ quá trừu tượng: Tròn (thời gian) và Vuông (không gian). Số lẽ là tròn, số chẳn là vuông. Nó cung ứng một cơ cấu làm nền tảng trên hết mọi cơ cấu, hầu giải quyết rất nhiều vấn đề rắc rối trong triết học, để đưa đến chỗ hiện thực bản tính trung thực con người (con số 5). Vấn đề rắc rối sâu xa trong triết là vấn đề "hữu hay vô", hoặc "nhất hay đa". Vũ trụ là nhất hay đa, vạn vật nhất thể hay đa thể. Nếu chủ trương "đa" thì chỉ biết những vật trong hiện tượng, gọi là duy-vật-thể (chosisme) hoặc hình thức quen thuộc hơn là duy-vật (matérialisme). Đó là hình thức đẩy Vô Thể ra khỏi duyên Tương-Sinh Hữu-Vô, đẩy Trời ra khỏi Đất, đẩy Thời gian ra khỏi Không gian. Nếu đem áp đặt vào con người, thì đây là hình thức đẩy Vô-Biên-Tính ra khỏi con người, tức là vứt bỏ linh-thiêng-tính cuả nó. Nói đến Ngũ hành tức là nói đến Âm và Dương, Không và Có, Trời và Đất, Thời và Không gian cùng gắn liền với ngũ luân (vợ chồng, cha mẹ, vua tôi, anh em, bè bạn) và với ngũ thường (nhân, lễ, nghĩa, trí tín). Đây là Kinh gốc cuả Nho còn gọi là Kinh Dịch. Ngũ hành là tâm linh sử quan (idea-spiritualisme historique) là đạo (voie) đi vào đời (vie). Ngũ hành là một triết lỶ đươc cơ cấu hoá (structurer) bằng những con số, có ngôi vị cố định trong 9 trù,(thời nay gọi là ma phương, matrice) để nói lên sự cân bằng, sự yên tỉnh vô biên cuả vũ trụ tương duyên (đi đôi, en paire) với vô phương vô hướng cuả tâm linh đúng như câu ỡ vũ trụ chi tâm ữ. Phân tích Ngũ hành tức là tìm hiểu một triết lỶ dung nhiếp được Có và Không, xếp những cái bé nhỏ quanh cái không vô biên, để cái Không trở nên đạo Trống rổng.

 

Phần 4. Đường lên cá tính.

Cha mẹ sinh con chứ không sinh tính con mình được.Cá tính là điểm cao chót vót mà mỗi con người thường cố gắng đạt tới. Cũng như đạt được cứu cánh cuộc đời, khi con người đạt được cá tính trở thành con người có nhân cách, có giá trị nhân chủ. Nói nhân cách có nghĩa là đi đến cùng cực cuả con người, cũng như nói cách vật là đến chỗ cùng cực (tuyệt đối) cuả sự vật. Triết lỶ An Vi gọi đó là luật Chí Trung Hoà, (càng đi sâu vào sự vật càng hiểu biết sự vật an tại), đã chia đường tiến về nhân tính thành ba chặng: Khóm thể, Cá thể và Cá tính.

1. Khóm thể là một lối tổ hợp nuốt trọn vẹn con người từ thời thái cổ, lúc con người chưa đủ óc tinh tế để nhận ra những dị biệt bé nhỏ, chưa nhận thức được mình như một thực thể biệt lập, tự do, nên chưa có hồn thần độc lập, mà chỉ có hồn thần đoàn lũ. Cá nhân chỉ biết tuân theo tùng phục trọn vẹn và mọi động tác thì thu dồn vào lao lực tay chân, nhẹ phần trí óc. Tất cả suy tư, dự trù, phác họa đường lối và kế hoạch đều dành cho một thiểu số mà trung tâm là tù trưởng, là vua chuyên chế. Những vị nầy được xem là hồn khóm. Tại hồn khóm, con người chỉ chú trọng đến chất lượng (quantité), chứ không trọng phẩm tính (qualité), bắt chước thì giỏi mà sáng tạo thì tồi!

2. Cá thể là đơn vị nhỏ bé nhất sau khi phân tích từ một khóm thể. Trong khi khóm thể chú trọng về tổng hợp, nhìn sự vật một cách hổ-lốn (global) thì sự chú trọng về phân tích đi vào tỷ mỷ chi tiết thuộc về cá thể. Cũng như khi ta mới nhìn hàng triệu con chim sẽ ta tưởng như cùng đồng đều một loại, nhưng xét cho kỷ thì mỗi con chim có một cái gì khác nhau, mỗi con có một cá thể không thể trộn lẫn nhau được. Loài vật còn thế, huống gì loài người có mầm linh thiêng nên thường đi tìm đến chỗ cùng cực cuả cá thể hầu đạt được cứu cánh cuả nó. Khi bản tính con người được bày ra trước mặt thì gọi là cá-thể-hoá (individualiser). Vì cá thể bị chi phối bởi thời- điểm và không-điểm lúc tác phẩm được thực hiện, nên không có sự lập lại (répéter) y nguyên (identique), do đó cá-thể-hoá không được nằm lì một chỗ mà phải di dịch. Ngược lại, nếu sự cá-thể-hoá không di dịch hoà đồng tức là không cần vượt ra ngoài cái đã có rồi (corps existants), để đi tìm cái mới chưa có (corps inexistants), thì không còn gọi là cá-thể-hoá đích thực, bởi lẽ nó tôn thờ cá tính đã có y nguyên, che đậy bởi những lỶ lẽ công thức hoá gọi là Ỷ-thức-hệ, là triết lỶ, mà thực chất nó thiếu phổ biến tính có khả năng thu thập mọi dị biệt vào nền thống nhất bao la. Hoàn cảnh là dấu vết cuả cá thể. Hoàn cảnh thành bởi không gian và thời gian, vì không bao giờ có một thời điểm với không điểm lập lại y như nhau, nên hoàn cảnh chính là cái khung dị biệt cùng cực để giúp khám phá cá thể. Đấy là lỶ do sâu xa giải nghĩa tại sao Đạo làm người tuy là một, mà không thể có một nền văn hoá đồng đều cho hết mọi dân, mọi đời. Muốn làm người đến chỗ chí nhân, thì con người phải tiến đến chỗ dị biệt cách trọn vẹn cả Ỷ, tình và chí. Vì vậy, động cơ chính cuả cá thể là phân tích để con người thoát ra khỏi cảnh đồng nhất (état identique) cuả khóm thể.

3. Cá tính thuộc về tâm linh. Như trên đã nói, mục đích cả-thể-hoá là tách con người ra khỏi đợt đầu khóm-thể, đợt cuả văn hoá sơ khai cuả loài người lúc còn ấu trĩ. Điều quan trọng nhất trong giai đoạn nầy là phân tích khách quan để tìm cho được cái khung hoàn cảnh dị biệt do một không-điểm và một thời-điểm tạo nên. Nói khác, vô số không-điểm và thời-điểm sẽ cho vô số hoàn cảnh dị biệt. Một hoàn cảnh dị biệt A không thể nào chuyển hoá thành hoàn cảnh dị biệt cảnh A'. Do đó, thế giới Ỷ niệm không thể tạo cho đoàn lũ loài người đồng đều như nhau từ Ỷ, tình và chí. Hàng triệu trẻ con không thể có cùng tiếng khóc; hàng triệu con người không thể có cùng tâm trí. Sự khác biệt đó gọi là cá tính, là hồn tâm linh. Cá tính là sự tiếp nối cá thể. Cá tính chủ Ỷ đến cái độc nhất vô nhị trong mổi cá nhân, cái mà Việt Nho gọi là 'thận kỳ độc' do trời ủy thác cho mổi người và một người mà thôi. Không ai có thể thay đổi cá tính được; nó là cái tư nội, mới mẻ, tự nhiên không ước lệ, không bị sai khiến điều động, mà là đột khởi, ngược hẳn với cái gì cuả đoàn lũ do ngoại khởi bó buộc và kìm hảm. Cũng vì lẽ nầy mà các bậc vĩ nhân xem thường những ước lệ, những công lệ luân lỶ, giới truyền cuả xã hội, xa lánh đoàn lũ,... thường bị sắp hàng với kẻ khùng điên lập dị!

4. Nhưng không phải ỡ thận kỳ độc ữ như Lão Trang chủ trương đến chỗ đề cao ỡ tị thế ữ (tránh đời). Tỵ thế là hình thái cùng cực cuả thận kỳ độc, nó quên mất hẳn luật Chí Trung Hoà, nên trở thành lập dị. Vì vậy, nên muốn thoát hồn khóm là một chuyện, mà tìm ra đường lối hiệu nghiệm là một chuyện khác. Phải giử thế nào như câu nói Việt Nho: Quân tử hoà nhi bất đồng, nghĩa là quân tử có hoà mà không có đồng. Quân tử ở phần ngoài phải hoà đồng, nhưng ở phần trong phải giử cái đặc trưng cuả mình. Cũng như quân tử bề ngoài ỡ hoà nhi ữ với đoàn lũ để cúng ông bà tổ tiên, để kính trọng nhân tính cuả con người, nhưng quân tử bất đồng với đoàn lũ ở chỗ không phải vì lợi lộc cúng quảy ông bà để cầu xin lợi lộc riêng tư. Cá tính được gọi là cá tính quân tử khi nó giử được cuộc sống ỡ lưởng nghi ữ, vừa thích nghi với cái chung chung cuả đại chúng và vừa thích nghi với cái đặc trưng cuả mình. Cá tính lưởng nghi hội nhập được tính chất kết đoàn cuả giai đoạn khóm thể, để biến đoàn lũ trở nên công thể.Trong công thể, những suy tưởng cảm nghĩ riêng tư không bị cấm đoán, trái lại được đề cao để tự do sáng tạo.

 

Phần 5. Sống như Chơi

 

Trong ngữ tự chữ Chơi nói ở đây không phải là chữ chơi đồng âm với ngữ tự chơi bài, chơi đàn, chơi chữ hoặc là nó chơi tôi, vì những từ nầy nhắm vào nghĩa tầm thưòng: chơi là không làm việc gì, hoặc có Ỷ giải toả cái bản năng nhất thời. Nói nghĩa tầm thường là vì nó không giải toả được hai mặt văn hóa và tâm linh. Thực ra chữ chơi ở đây phải hiểu theo nghĩa triết học: đó là hình thức biểu lộ một sự sống có tính cách nội khởi, tự động và phổ biến trong mọi loài có bản năng nghĩa là cả người và súc vật. Trong nhân loại sự chơi được xuất hiện trước cả mọi văn hoá. Hầu hết văn hoá loài người đều có quan niệm gần hay xa với sự chơi, như trong câu Việt Nho 'hoá nhi đa hí lộng' nghìa là trẻ tạo hoá chơi rất nhiều; chơi như trẻ con chơi mà không nhằm đạt cái chi ở bên ngoài. Chơi là một động tác tự tại, không cần động cơ ở ngoài thúc đẩy. Chơi là chơi. Bởi vậy chơi được xem là sự tràn bờ cuả sức sống và hạnh phúc. Chính sự tràn bờ, chính sự tự tại không nhằm mục đích, nên Chơi cũng như Thần vì cả hai đều mang tính chất vô biên, vô phương và vô hướng.

 

Thời cỗ xưa Chơi thường dính liền với muá hát trong tế tự có mục đích là đặt con người liên hệ chặt chẻ với linh thiêng, nên mọi tác động được xem là cao cả nhất vì nó mang tính cách vô biên, tức là với những gì không hạn cục, không mốc giới. Các động tác ca muá trong tế tự là hình thức cơ cấu hoá việc chơi. Điều nầy đã được chứng minh trên các hình vẽ trên mặt trống đồng Việt tộc. Một cuộc chơi được gọi là trung thực khi tiêu điểm vượt ra ngoài khỏi tai mắt, giác quan và Ỷ niệm, nó cũng giống tế tự mà Việt Nho đã nói là ỡ tế tự bất kỳ ữ, việc tế tự không có cầu mong xin xỏ (bất kỳ), mà chỉ để cho lòng mình dâng lên tận cỏi vô biên như lúc mình đang chơi vậy. Do đó, khi nói đến ỡ Sống như Chơi ữ là có Ỷ nói con người phải biến cuộc sống trở nên một cuộc tế tự thường xuyên và trường kỳ.

 

Bải bỏ sự chơi tức là chống lại phần nào cuả sức sống, do lòng tham lam muốn kéo nhiều lợi lộc về cho mình. Mục đích bải bỏ cuộc chơi không bao giờ thành đạt dù bất cứ dưới thời đại chuyên chế nào, vì còn sống thì còn chơi, nếu không chơi được công khai đàng hoàng thì con người sẽ chơi lén lút, dẩn đến chơi kiểu thác loạn, kiểu súc vật. Chơi chân thực là thể hiện bản tính con người, do đó chơi không thể là gượng ép, không thể là bắt buộc chơi cho kẻ khác thưởng thức như dưới thời La Mã tại các đại hí trường bắt hàng ngàn nô lệ chơi bằng cách đấu gươm đâm chém nhau. Đây không phải là chơi mà là một cuộc phô trương thách thức giủa tù trưởng và nô lệ, giửa tài phiệt và dân nghèo. Đem cái chơi cuả kẻ khác để làm lợi cho cá nhân mình hay cho đoàn thể mình thì không phải là triết lỶ Chơi, mà là một triết lỶ lao động trá hình đầy ải con người toàn triệt, biến xã hội thành trại lao động cưỡng ép! Cho nên chơi ở đây phải là con đường tu luyện nhân đức đúng theo chủ trương triết lỶ An Vi. Chơi đồng nghĩa với sống phong lưu, sống hoà nhịp với vũ trụ bao la, như gió thoảng trên không và nước chảy trên nguồn, chỉ bay bổng chỉ chảy xuôi, chẳng màng gì khác.

 

Vì thế An vi chủ trương triết lỶ Chơi phải được xây dựng trên ba yếu tố. Đó là một vũ trụ quan động, một nhân sinh quan tác hành và một tâm linh quan hướng tới vô biên. Thật vậy, vũ trụ quan ví như bầu khí hút thở cuả tâm hồn, nó đủ chức năng để nhồi nặn những tâm hồn ù lì nằm trong vũ trụ quan tĩnh. Do đó, một vũ trụ quan động là điều cần thiết cho cuộc ỡ Sống như Chơi ữ, vì chơi là năng động như gió thoảng bay như nước trôi chảy. Tiếp đến là con người cần có một nhân sinh quan hoạt lực cho hợp với vũ trụ quan động. Bởi lẽ vũ trụ quan động mà nhân sinh quan tĩnh thì con người bị lùa vào thế bị động, thiếu thong dong là bản chất mọi cuộc chơi, tức là không chơi cách trung thực. Cuối cùng là phải có một tâm linh quan hướng tới vô biên. Bởi lẽ có vô biên thì sự thong dong mới cùng cực, cũng như có vô biên mới có tâm và có linh, không bị trói buộc vào nơi chốn.

 

 

 

Phần 6. Triết lỶ An Vi.

Trên phương diện nguồn gốc thì gọi là Việt Nho còn gọi là nguyên nho, và trên phương diện cơ cấu thì gọi là An hành hay là An vi, một triết lỶ mức độ lỶ tưởng mà tác động con người có thể đạt được, bởi lẽ theo Việt Nho muốn an hành thì ba chữ ỡ Hoà, Nhân, Linh ữ phải đi cùng nhau. Hòa là hoà hợp, hai mà một, một mà hai. Nhân là nhân phẩm con người nằm trên mọi sự vật, Linh là thần linh, một quan niệm then chốt để đạt được hai mục tiêu trên. Xưa nay các triết học và lỶ thuyết vận hành nằm trọn vẹn trên cưởng hành và lợi hành, nên không giải quyết đưọc vấn đề nhân sinh an hoà giửa vũ trụ (nhân sinh quan và vũ trụ quan). Sau đây là những đặc trưng cuả triết lỶ Việt Nho:

Hoà biểu thị bằng hai gạch đi song đôi còn gọi là song trùng, để diễn tả một vũ trụ quan hài hoà năng động, tức là hai cực không cái nọ đẩy cái kia. Đem nét đó áp dụng vào vũ trụ quan thì trời không đẩy đất và đất không đẩy trời, vào tâm lỶ thì tình không đẩy lỶ mà lỶ cũng không đẩy tình, vào xã hội thì ưu dụng tinh thần công thể không mạnh đưọc yếu thua.

Nhân là nhân chủ, con người phải làm chủ riêng một cỏi, chỉ liên hệ chứ không lệ thuộc cuả Trời Đất. Bởi lẽ nô lệ Trời tức là tự buộc mình vào thuyết định mệnh, một hình thức nô lệ trá hình; và nếu nô lệ Đất là tự buộc mình vào duy lợi cuả hạ tầng kinh tế chỉ huy. Như thế, con người mất cả quyền hành và nhân phẩm, không còn gọi là nhân chủ được.

Linh cũng gọi là Thần mà Việt Nho định nghĩa là Thần Vô Phương. Thần không có phương tức là không bị lệ thuộc vào hình thái hay vị trí nào, Việt Nho quan niệm thần là trống rỗng, nói khác thần là vô hình, vô tượng, vô thanh và vô xú. Vì có Vô như thế mới thấu nhập cùng khắp để nối kết hai thái cực Trời và Đất trong cuộc hoà hài vĩnh cữu.

Để được làm người, trước hết ta phải có một quan niệm đứng đắn về con người. Thế mà hầu hết triết học cổ điển không thoát vòng ảnh hưởng cuả Aristote, môn đệ Platon, với quan niệm người là con vật biết suy tư. Thực ra xét con người là con vật chỉ đúng một phần, đó là phần ỡ ăn với đất ữ, nhưng còn phần ỡ ăn với trời ữ thì trả lời thế nào?. Biết suy tư vẩn chưa đủ để trả lời, vì suy tư lỶ luận chỉ vận hành trong thế giới Ỷ niệm (như Platon đã nói rằng lỶ giới tách biệt hẳn trần giới, tức là không có triết lỶ nhân sinh), mà Ỷ niệm là cái tượng Ỷ cuả sự vật với đặc tính hữu hình bé nhỏ. Nói khác, cái ỡ biết suy tư ữ đã cột con người vào sự vật bé nhỏ, hữu hạn y như con vật, thì còn đâu là ỡ thần vô phương ữ nửa? Như vậy, câu nói ỡ nhân linh ư vạn vật ữ chỉ là câu nói hời hợt bên ngoài cuả lương tri (bản năng). Bởi lẽ chữ ỡ linh ữ đã hữu hình hoá, đã hữu hạn hoá. Thế là con người bị cắt hoạn hết cả chiều kích vô biên để trở nên duy vật ngay trong tư tưởng triết lỶ.

Suốt dọc hơn hai mươi thế kỷ thế giới đã đi mòn trên con đường ỡ duy tĩnh ữ, bỏ phần năng động như triết học xây dựng trên Ỷ niệm bất động cuả Platon. Chính nền triết học bất động nầy đã kéo theo biết bao nhiêu cái ỡ duy ữ khác. Như duy không gian bỏ hẳn duy thời gian, duy tư sản bỏ hẳn duy vô sản, duy lỶ luận bỏ hẳn duy tâm tình. Tóm lại đó là loại triết học một chiều, còn gọi là loại triết học nhị nguyên, loại triết nhằm bỏ hẳn một bên và chỉ lấy một bên. Gần đây trong triết học tân thời, sau khi thức tĩnh, đã đưa ra phạm trù mới ỡ tiến hoá ữ nhưng kết quả chỉ là xáo động (agitation) mà không là biến động (transformation).

Đối tượng đoạt chủ thể như câu nói cuả Trang tử: ỡ hữu cơ khí tất hữu cơ tâm ữ (có cơ khí tất có cơ tâm), Ỷ nói khi con người dùng nhiều máy móc thì tâm hồn con người sẽ bị máy móc hoá, hết tình người. Tâm hồn con người không còn giử được thế độc lập mà bị sát nhập vào với đối tượng, gọi là đối-tượng-hoá (objectivation) hay vật-thể-hoá (chosification). Duy vật là một hình thái cuả sự vật-thể-hoá nầy, nhưng người ta không nhận ra được vì trong trạng thái đó con người vẫn giử được phần tiểu ngã, tức là phần bản năng như thú vật, mà đánh mất phần đại ngã chân mỹ thiện cuả tâm linh. Tóm lại, từ sự vật, thú vật đến con người chỉ khác nhau về hơn kém thể xác chứ không còn cái gì gọi là linh thiêng nữa. Đến đây con người bị vong thân giửa đám sự vật. Để chống trả với hữu vô, thì vô vi nhận thái độ quay lưng lại đời. Họ chủ trương rằng muốn tâm không bị cơ-khí-hoá thì cách hay nhứt là chối bỏ cái thế giới cơ khí, lìa bỏ thế giới đối tượng còn gọi là ỡ tị thế ữ như Lão Trang chủ trương. Tiếc thay Lão và Trang là hai cánh nhạn lẽ loi ở cỏi trời Đông. mà gốc tổ Vô vi lại ở miền Ấn độ. Nơi đây, vạn vật quanh ta đều là ảo ảnh (MAYA), khỏi cần để tâm vào.

Nhưng Ỷ niệm ảo ảnh nầy cũng chỉ là những suy tưỏng chủ quan không xoá bỏ nổi đối tượng, một hình thức cuả các con đà điểu vùi đầu vào cát để khỏi thấy thợ săn, nhưng thợ săn càng dễ bắt! Bằng chứng là các Tăng Lữ cuả thần Brahman đã trở nên những người làm giàu mạnh nhứt, họ không từ chối cả những phương tiện phi nhân kể cả việc bắt các bà goá phải lên giàn hoả chết theo chồng để dành mọi cuả cải cho Tăng lữ Brahman. Một thời Bà la môn đã bày ra luật pháp bảo vệ nhóm Tăng lữ, để rồi về sau đã bị Phật Thích ca đập tan hơn hai triệu thần Bà la môn và làm cho đạo Ba la môn lu mờ hẳn cho đến thời Shankara mới khôi phục được nhờ sự sát nhập cuả Phật vào Bà la môn giáo, tuyên dương Phật là một hiện thân (avatar) cuả thần Brahma. Trong thế mạnh Bà la môn đã chấp nhận mọi giá trị mới cuả Phật, tức là thu góp hết sinh lực Phật và kết quả, hôm nay Phật giáo trở nên lu mờ trên đất Ấn độ. Từ Bà la môn đến Shankara người dân Ấn độ vẩn chưa giải thoát những cảnh áp bức nghèo khổ, thế mới biết triết lỶ Vô vi cũng mang thất bại như Hữu vi.

Triết học không phải là khoa học, cũng chẳng phải là kinh nghiệm hay thực nghiệm như vật lỶ, toán học, động vật học. Nó không phải một thực trạng tri thức cố định giới hạn mà là một môn học tìm về nguyên lỶ gốc Do đó, triết lỶ An Vi, một nền triết lỶ Việt Nho được đề ra với thế giới hiện đại coi như xứng hợp để dẫn nhân loại đến cảnh phong lưu trước mối đe dọa cuả nạn ỡ cơ tâm ữ, mục đích giải phóng cái tâm con người ra khỏi sự đe dọa bởi ỡ cơ khí ữ. Triết lỶ An Vi là chìa khoá ỡ tác hành ữ độc nhất để ỡ hữu cơ khí mà không bị cơ tâm ữ, và như vậy mới đạt được cứu cánh Hạnh Phúc con người.

Như trên đã nói, Việt Nho quan niệm yếu tính con người là tác hành, là hành, là ngũ hành. Con người bị dị chứng với tính thụ động nghĩa là con người sống được là nhờ ỡ có làm ữ, là do ỡ không thể không làm được ữ, chẳng khác nào như thời gian không thể ngưng nghĩ. Nhân sinh muốn tác hành cùng cực tất nhiên vũ trụ phải năng động mãi mãi giửa âm dương, sáng tối, cứng mềm, nam nữ, lớn nhỏ, có không, để tạo nên mối tương quan (alliance) giửa hoạt động cuả con người. Đó là bí quyết thành công cuả An vi, nó chủ trương liên hệ tương quan chứ không liên hệ trên sự vật, giới hạn bởi hai hạn từ ỡ năng ữ và ỡ sở ữ.

Tác hành cao nhất cuả Việt Nho là ỡ đốc hành ữ, nghĩa là hành đầy thành khẩn bằng cách đầu tư trọn vẹn sinh lực vào chính việc làm, không lãng phí chút nào vào bên năng hay bên sở (bên chủ hay bên đối tượng) để tránh phân tán sinh lực. Chẳng khác nào như người mộng du đi được trên mặt tường cao ngất vì Ỷ niệm sợ ngã không rút đi phần nào sinh lực cuả họ, nên họ dồn được sinh lực vào tác động đi. Nhưng khi họ thức dậy thì không làm được, vì sinh lực bị chi phối một phần bởi bức tường cao, một phần vì sợ ngã. Bởi lẽ sinh lực đã bị xé lẽ nên không thể đốc hành được. Nhưng đây là một ví dụ trong ỡ đốc hành vô thức ữ. Phân tích cùng cực trong hành động đốc hành, ta thấy có ba hạng tùy theo sự đối đãi cuả chủ thể và đối tượng. Khi đối tượng đoạt chủ thể ta hảy gọi là Hữu vi. Khi chủ thể đoạt đối tượng thì gọi là Vô vi. Khi chủ thể và đối tượng hài hoà thì gọi là An Vi.

Trong đạo nhập thế thì hữu vi đặt nặng trên vật thể, đúng hơn là trong Ỷ niệm cuả vật thể. Trái lại trong đạo tị thế thì vô vi đặt nặng trên chủ thể (tâm), trên thái hư, nên không làm. Trong khi đó thì An vi đặt nặng trên chữ tác hành. Tuy tác hành cùng cực nhưng không bao giờ đánh mất chữ ỡ tiết ữ mà luôn giử ỡ làm và chơi ữ trong nhịp điệu hài hoà. An vi coi việc làm như thành tố cấu tạo nên con người, việc làm không còn là cái gì tùy phụ, mà chính là bản tính con người, nhưng làm cho tiểu ngã chiếm 2 và chơi cho đại ngã phải chiếm 3. Hai hành động Làm (2) và Chơi (3) tạo nên 'Ngũ hành' (2+3=5). Vì thế nên Việt Nho gọi Ngũ hành là An vi.

Triết lỶ An vi (*) là sự xếp đặt giửa ỡ xuất và nhập ữ, giửa ỡ có và không ữ, giửa ỡ vạn và vãn ữ, giúp con người sống được cuộc sống như chơi, một cuộc sống thanh thoát nhẹ nhàng, không bám vào chi cả, có mà như không, không mà lại có. An vi là "đường cong duyên dáng" không tròn không vuông, là biểu tượng cho muôn vàn động ứng tế vi khác. Tóm lại, đại để triết lỶ An vi là lối sống cuả con người ỡ ở đời ữ, không ỡ xuất thế ữ cũng không ỡ nhập thế ữ mà là ỡ xữ thế ữ sao cho con người đạt được Hạnh phúc cùng cực.

(*) An viet, Houston P.O. Box 91611, Houston, TX 77291-1819.

Lê Hùng, Bruxelles.