Ba Cay Truc

  • Tăng kích thước chữ
  • Kích thước chữ mặc định
  • Giảm kích thước chữ
Chào Mừng Bạn Đến Với Trang Báo Điện Tử­ Ba Cây Trúc **** Mọi bài vở và thư từ xin gởi về bacaytruc@gmail.com**** Có hiểu mới biết thương, có thương thì mới trọng, có trọng thì mới biết giữ gìn ****

Unicode 21: Ngô Ganh

Email In

Ngô Ganh, người nghệ sĩ mang căn tính chính trị. (Bài 4)

(kinh dâng linh hồn anh Ngô Ganh)

Lê Hùng, Bruxelles.

ỡ Thầy Ganh đi đâu rứa hè ? ữ Đó là câu chào hỏi chân tình mà người dân Huế, đàn bà lẫn cả đàn ông từ già đến bé thường dành cho anh Ngô Ganh mổi lần họ chạm mặt. Thật là điều khá lạ! Mọi người đều gọi anh bằng ỡ thầy Ngô Ganh ữ vì họ nhìn anh qua nghề nghiệp. Học sinh và phụ huynh thì biết anh Ngô Ganh là giáo sư dạy nhạc tại hai trường Đồng Khánh và Quốc học. Nhưng các hội đoàn tôn giáo, các tổ chức văn hoá tư nhân hay những cơ quan công chức chính quyền thì biết anh Ngô Ganh là chính trị gia. Riêng tôi biết anh Ganh ban đầu đã theo những tổ chức khuynh hướng Cụ Phan bội Châu. Một thời anh là thành viên cuả nhóm Tinh Thần (thủ lãnh là Nguyễn tăng Nguyên tại Saigon). Khi cụ Trần văn LỶ lên nắm quyền miền Trung thì anh là một trong danh sách sáng lập viên Cần lao Cách mạng đãng (thủ lãnh là Nguyễn chí Kĩnh tại Huế). Trước thập niên 50, cả hai nhóm Nguyễn tăng Nguyên và Nguyễn chí Kĩnh một thời đã bí mật quyên giúp tiền bạc trực tiếp cho ông Ngô đình Diệm trên đường bôn ba hãi ngoại. (Xin đọc giả nhớ rằng Cần Lao Cách Mạng Đãng chứ không phải Cần lao Nhân vị Cách mạng đãng về sau nầy cuả ông Ngô đình Nhu ). Ngoài ra Anh còn dành cảm tình cho Việt nam Quốc dân đãng nhiều hơn các đãng phái quốc gia khác.

Anh Ngô Ganh lớn hơn tôi 5 tuổi, nhưng không phải vì sự cách biệt tuổi tác nầy mà làm cản trở hai chúng tôi sau giờ bải học và tan sở làm. Tôi không quên được vào những đêm khuya, hai chúng tôi cùng nhau lên Nghẹo giàng Xay ăn bánh bèo vì nơi đây người chủ quán cũng có máu nghệ sĩ, thích nói chuyện hài hước. Ông chủ quán kiêm việc xay gạo và làm bếp đỗ bánh bèo, nhưng mổi lần có mặt chúng tôi là ông nhờ vợ giúp tay để ông tranh thủ thì giờ nói chuyện.... ỡtếu ữ. Đặc biệt chúng tôi thường đến ăn vào khoảng nữa đêm và lần nào ông cũng dọn một bàn dành cho hai chúng tôi ngay giửa đường xe hơi trước nhà.

Về những tháng gần hè, Huế nóng lắm. Hai chúng tôi thường dẫn nhau lên chùa cụ Thái văn Toản phía sau núi Ngự Bình vào buổi trưa để hứng mát. Kỷ niệm còn lại là mổi lần đến đây thì vị trù trì thường thiết đãi chúng tôi loại rượu thuốc đặc biệt nhấm nhí với mấy quả ổi tiêu hái từ cổng chuà. Ngài cũng cho chúng tôi biết việc thiết rượu ớ chuà là điều cấm kỵ, nhưng với hai chúng tôi thì ngài muốn dành cho một biệt lệ. Cái tâm tình và cử chỉ cuả Ngài luôn luôn ghi tạc trong tâm trí tôi.

Nói về lượng sức rượu thuốc hoặc rượu trắng chắc anh Ganh chẳng mấy thua ai. Một hai cốc khoảng Ò lít là chuyện thường, thế mà chưa bao giờ ai thấy anh say. Anh ít hút thuốc, nhưng tôi để Ỷ mổi lần có ai mời hút thì anh cũng không từ chối. Dường như đối với anh, sự từ chối mời mọc cuả bạn bè là điều tối kỵ. Khi điếu thuốc lá đã dính cứng vào giửa hai chiếc môi dày cộm thì anh thường kéo theo miếng trầu nhập khẩu. Bạn bè qúy anh đều biết tính, nên hể anh đến nhà ai thì cũng được mời thuốc lá và miếng trầu nằm bên cóc rượu.

Dáng người mãnh khãnh, không cao không thấp, nhưng mái tóc anh thì đã già trước tuổi. Mầu trắng mái tóc hớt ngắn xem chừng không khác mấy với mầu trắng bộ complet anh thường bận. Tại các tĩnh miền Trung xa Huế, lớp người thế hệ thời 1940-50  không những biết tên anh Ngô Ganh, một tay dương cầm, một nhà nhạc sĩ trước tác nhiều bài ca vui nhộn tuổi ỡ học trò ữ, mà còn là một nhà chính trị, một người nghệ sĩ hài hước ở chốn cố đô. Phần đông họ biết tên Ngô Ganh qua báo chí và lời đồn đãi rằng anh là một nhà trào phúng thường biểu lộ lập trường cuả mình ở những nơi công cộng qua cái cười nhạo báng giửa lời nói mỉa mai hàm Ỷ chống đối một số đông quan chức dưới thời người Pháp có mặt tại Đông dương.

Thật ra anh Ngô Ganh không những chống đối sự hiện diện cuả người Pháp tại Việt nam mà ngay cả mọi đường lối hoạt động cuả Việt minh trong thời kháng chiến. Vì vậy, một thời anh bị cả hai mủi nhọn cuả người Pháp và cuả người cộng sản cố tình tiêu diệt. Trong thời gian ông Phan văn Giáo làm thống lãnh miền Trung, anh Ngô Ganh là bạn thường trực cuả nhà lao Thừa Phủ nằm kế cạnh sau lưng trường Đồng khánh Huế.

Nhìn bộ dáng bên ngoài chẳng có gì cân xứng với tên tuổi cuả anh, nhưng phải nhận rằng Ngô Ganh có tài ăn nói và giỏi nghề khuyến dụ dân thường qua nụ cười rất hài hước. Có lẻ nhờ vậy mà đôi khi anh tránh né được cơn thịnh nộ cuả những người không cùng lập trường chính trị. Suốt đời, trong bộ complet mầu trắng nặng hơn thân hình, kéo theo thướt mướt bởi hai ống quần rộng chừng 25 cm che cả gót đôi giày mỏ vịt (bec canard) hai mầu đen trắng.

Khi ông Phan văn Giáo lên làm thủ hiến Trung Việt, ông muốn kiểm soát lập trường những nhà trí thức trong nước nên cho phép nhân dân tham gia những buổi nói chuyện công cộng. Và tại Huế, chính quyền cho dựng một diễn đàn lộ thiên được thiết trí ngay tại sân Phu Vân Lâu, trên bờ sông Hương nằm gần trước cữa hoàng thành. Đây cũng là một chiến thuật chính trị theo lối trăm hoa đua nở cuả Trung cộng thời Mao trạch Đông và cuả Bắc Việt trong thời kháng chiến. Mổi lần được tin anh là diễn giả nhiều người đã bỏ công việc để đi nghe.Vì ai cũng biết anh Ganh hay nói chuyện chọc cười với ẫn Ỷ nhạo báng chính quyền trước khi vào vấn đề. Cứ nhìn vào bề thế và cử chỉ cuả anh khi vừa bước lên khán đài là những tràng vỗ tay pha lẫn tiếng cười rộn rã. Đây là cái cười thân tình mà mọi người thường biểu lộ sự đồng tình với diễn giả và cũng là để đáp lại với cái cười trào lộng cuả anh sắp biểu diễn.

Thật vậy, trên bộ mặt xương xẩu vì 2 gò má quá cao. Dưới cặp mắt to tròn và sáng quắc, cái miệng rộng cuả anh choán cả phần trên cái cằm nhọn vắt. Mổi lần những nụ cười cuả anh chớm nỡ chiếm hết hai bờ môi là để lộ ra cả hai hàm răng trắng toát. Trong mọi cử chỉ và lời nói anh thường tỏ cho người nghe biết anh đang nuôi mộng trở thành một nhà cách mạng xã hội. Tính khí quyết liệt nầy cũng thường biểu lộ trong mọi tác phẩm cuả Anh.Và sau nầy việc gắn anh vào những tổ chức cách mạng theo đường lối Phan bội Châu hay Ngô đình Diệm cũng là chuyện không sai.

Có lần tôi hỏi anh vì sao khi nhắc đến tên Hoàng đế Bảo Đại là anh bỉu môi có vẽ khinh bĩ, hoặc nói đến nước Việt Nam Độc Lập trong khối Đông dương thì anh dừng lại đưa tay lên trời và xề ra cái cười có vẽ ỡ khả ố vô duyên lạ lùng ữ đển độ mọi khán thính giả phải cười lăn cười lóc ?. Thì được anh trả lời rằng đó là ỡ nghệ thuật ữ cuả một diễn giả. Mà mục đích cuả diễn giả là gì nếu không phải là ngoài lời nói còn phải có nghệ thuật để lôi cuốn thính giả. Mọi bài nói chuyện giưả công cộng đã trình lên toà Thủ Hiến kiểm duyệt trước và diễn giả không dùng nghệ thuật riêng mà chỉ đọc theo lời trong bài đã kiểm duyệt thì đó chỉ là tên học trò trả bài cho thầy giáo. Ai thèm nghe ! Ngặt nổi là toà Thủ Hiến đâu có biết động tác cuả diễn giả cũng là cách kích động trước quần chúng. Chính động tác là lời nói ẫn dụ ăn khách nhứt trước diễn đàn công cộng. Nhờ vậy mà chính quyền đương thời dù cho không ỡ vui ữ cũng không thể nào bắt tội anh được.

Anh Ngô Ganh có vợ và 3 con. Vợ anh là một y-tá rất quen thuộc tại bệnh viện Huế. Suốt đời, sau hết giờ làm việc, chị chỉ biết về nhà lo nuôi con và phụng sự chồng. Tuyệt nhiên không dính dáng đến mọi hoạt động ngoài xã hội cuả chồng. Kể cả thời gian anh Ganh làm giám đốc đài phát thanh Huế, chị Ganh cũng đi làm bằng xe đạp hay đi chân. Còn 3 đứa con, thì anh đã đặt cho ba cái tên gọi cũng khá hài hước. Cô gái đầu tên là Chích choè (merle jaune). Cậu con trai thứ tên là Cà cưởng (paradisier) và cô gái út là Chià vôi (bergeronnette). Lần đầu tiên đến nhà, sau khi nghe anh gọi tên con, tôi đã không dằn được cái cười thầm trong bụng. Mà đây cũng là điều rất lạ là về sau tôi để Ỷ về tánh nết cuả mổi đứa con cuả Anh đã ăn khớp với tên gọi. Cô Chích choè thì mãnh dẽ yểu điệu nhưng trâm lặng. Cậu Cà cưởng thì thật là đứa con trai năng động và suốt ngày bay nhảy. Còn cô Chìa vôi thì ôi thôi sao mà ăn nói như chiếc haut-parleur cuả mấy bà nhà quê gọi nhau buổi sáng trước khi ra đồng làm việc!

Trong nhà anh Ganh có nuôi hai con cò, con mầu hung đõ anh đặt tên ỡ thực dân đõ ữ (capitaliste rouge) và con trắng mang tên ỡ thực dân trắng ữ (capitaliste blanc). Đây là một loại chim mà ở quê Quảng bình tôi thường gọi là con ỡ cói ữ  chứ không gọi là con ỡ cò ữ. Một loại chim thuộc giống vạc cò vì nó cũng có cỗ dài, hai con mắt tròn to tướng và xanh ngắt. Loại chim nầy không nhìn mồi được xa vào lúc đứng bóng muà hè. Vì vậy những buổi trưa trời nắng gắt nó hay ẫn trong những bụi cây thấp dọc bờ ruộng để làm mồi cho mấy thằng nhóc con đi bắn bằng ná cao-su. Thân chim nhỏ mà dài bám trụ vào hai cái chân cao lễu nghễu. Có lẻ nhờ vậy nên nó chạy rất mau mổi khi thấy mồi từ xa. Mỏ chim nhọn và dài tra vào cuối cái miệng bềnh to tỏ bố trước mổi con mồi khi chạy vào cổ họng.

Cứ mổi con chim có một chế độ nuôi dưởng riêng biệt. Con cò mầu hung đõ cho ăn thịt và con mầu trắng ăn chay trường bằng mè và gạo. Anh thường nói với tôi rằng cả hai con cò đều là loại ỡ thực dân ữ. Mỏ miệng tai óc mắt mủi cuả chúng giống nhau, duy chỉ vì sự khác biệt cuả bộ lông bên ngoài nên đôi khi cũng hầm hực cấu xé thị oai ra điều muốn đấm đá dạy nhau môt bài học. Sở dĩ chưa công khai khiêu chiến có lẻ chúng biết rằng trên loài chim cò còn có loài người đang chờ dịp ăn thịt chúng. Thật là một dụng Ỷ đáng suy nghỉ !

Có điều tôi cũng lấy làm lạ là thái độ và cách xữ sự cuả hai con chim cũng rất khác nhau. Hình như hoàn toàn thuộc về tâm lỶ cuả con vật tùy theo chế độ nuôi dưỏng mà nẩy sinh ra. Con ỡ thực dân đõ ữ thường sinh hoạt trong bóng tối hoặc che dấu thân hình dưới gốc cây để rình bắt mồi. Mổi lần thấy con chim sẻ (moineau) nào sà ra ăn gạo ngoài sân là nó vồ bắt ăn tươi nuốt sống. Còn con ỡ thực dân trắng ữ thì có vẻ khoan thai kiểu cách trưởng giả, thường rảo bước dọc theo hành lang, hoặc quanh bàn ghế trong nhà hay ngoài sân cỏ. Nó chỉ ăn lá cây và những mầm non hoặc các cành hoa sắp rụng. Đặc biệt là nó tỏ ra một thái độ quan cách, tự cao, cố tỏ ra cho khách bàng quan biết rằng hắn không giống loại ỡ vạc và cò ữ như mọi người đã nghỉ. Cuộc sống đài các cuả hắn thúc dục hắn sống xa các loài chim khác và thú vật trong nhà.

Anh Ganh là con người giàu óc tưởng tượng. Hể thấy ai, dù chỉ một lần, anh cũng nghỉ ra một cử chỉ hoặc một lời nói có dụng Ỷ về người đó. Trong thời gian đầu lúc mới gặp anh, tôi cũng rất bở ngở trước thái độ hài hước nhuốm mầu trào lộng và ngạo mạn cuả Anh đối với một số quan chức đương thời. Vì vậy ở Huế một thời những người bị anh trêu chọc đã phao tin đồn anh là người điên. (Ganh est un fou). Thật ra không đúng như vậy. Điễn hình là chuyện ỡ Ngô Ganh điên ữ mà tôi và nhiều người tại Huế đã biết sau đây (phần dựa theo tạp chí Nói Thẳng xuất bản tại Huế).

Năm 1947, anh Ganh bị công an sở Liêm phóng Pháp bắt giủ vì nhà đương cuộc tình nghi anh là kẻ có lập trường chống đối chính phủ. Họ cho giải giam Anh ở ngay trong khuông thành toà nhà Khâm sứ Huế. Trong phòng tối, tay chân anh bị cột cứng bởi nhũng dây xiềng bằng sắt liên tiếp 3 đêm và 2 ngày. Phòng giam nguyên là kho tiếp liệu thực phẩm cuả người Pháp xây cất khoảng từ năm 1940 bằng xi-măng cốt sắt. Đồn rằng khi ban ngày trời càng nóng thì ban đêm càng rất lạnh vì người ta đã cho trộn nước muối vào xi măng lúc xây tường. Đến ngày thứ ba, ông chủ sở mật thám người Pháp, còn gọi là Cò Bazan, cho lệnh đem lên phòng để ông hỏi cung. Khi hai viên công an, tay cầm súng mitraillette vừa dẫn anh Ganh vào phòng, viên commissaire rời khỏi bàn giấy, tay chỉ vào chiếc ghế trước mặt và nói :

-    Xin mời ông Ganh ngồi.

Thay vì phải làm theo lời mời, anh Ganh lại tiến thẳng gần đến trước mặt viên commissaire, đưa hai tay lên trời, vừa cười vừa nói:

- Ôi cử chỉ đẹp làm sao!. Cho đến hôm nay, tôi chưa từng được thấy một nhá cai trị nào như ông. Đúng ông là nhà đại diện hoàn hảo cuả Chánh quốc nơi hấp thụ một nền văn hóa mang đặc tình người cuả văn minh La Mã. Quả thật nước Pháp còn may mắn có được những người con như ông. Họ đưa các ông đến đây để khai hoá dân tộc chúng tôi, để dạy dỗ chúng tôi thế nào là hạnh phúc, tự do và huynh đệ. Họ đã đưa các ông đến đây để giúp đở đồng bào chúng tôi trong tình bác ái cuả Thiên chuá giáo. Song le, tôi tự không cho phép tôi được ngồi xuống ghế để nói những chuyện thật với ông, khi mà hai người công an cuả sở Liêm phóng đang còn lựu đạn và súng cầm tay canh phòng sát nách.

- Vậy ông muốn tôi cho hai người công an đi ra ngoài để cuộc nói chuyện cuả ông tự do hơn? Viên commissaire nói.

- Nếu được, thưa ông Commissaire.

Viên commissaire quay lại ra lệnh cho hai tên công an rời khỏi phòng và tiếp tục:

- Xin ông Ganh biết cho rằng sự hiện diện cuả người Pháp hôm nay không phải như những năm cuả thời gian trước 1945. Chúng tôi đến đây để giúp Việt nam thoát bàn tay cộng sản. Do đó, chúng tôi rất cần nhiều nhà trí thức như ông. Khổ thay, vừa đặt chân đến đây thì tôi được tin rằng ông có thái độ chống đối người Pháp. Thiết nghỉ việc đó là bất thường và tại sao ?

- Thưa ông Commissaire, anh Ganh trả lời. Thế ra Ông còn tin vào những tin đồn như vậy hay sao?. Tôi không thể dám nghỉ rằng người như ông lại tin vào những tin đồn đại vô bằng như thế. Bởi lẻ nó trái ngược với cách xữ trí cuả ông đối với tôi hôm nay tại phòng nầy. Ông đã tin vào văn tự trong báo cáo nhưng ông không thấy được sự thật. Quả là oan uổng ! Nhưng nếu ông xét rằng cuộc nói chuyện hôm nay có tánh cách riêng tư và nó có thể giúp được gì cho ông trong nhiệm vụ, tôi xin sẳn sàng thưa rỏ với ông nhân danh với tất cả những điều tôi đã biết. Ha, ha, ha, ha,...

- Đúng như thế.

- Trong trường hợp đó, thưa ông Commissaire, trước hết tôi muốn bày tỏ rằng tôi không phải là người chống Pháp, cũng như không phải là người thân cộng sản. Nhưng tôi thường tự hỏi rằng nếu trong hàng ngũ lảnh đạo người Pháp có những Ỷ kiến logic trong vấn đề Việt nam, chắc hẳn đồng bào tôi không bao giờ chạy theo cộng sản. Thực ra hình ảnh những người trí thức Việt nam cộng tác với người Pháp xưa kia không phải là hình ảnh thực sự cuả người trí thức Việt nam hôm nay. Nước Pháp đã nhìn quốc gia Việt nam qua hình ảnh hoàng đế Bảo Đại. Vua Bảo Đại lại nhìn vào thủ hiến Phan văn Giáo, rồi ông nầy chỉ biết căn cứ vào những bản phúc trình cuả tên giám đốc công an Nguyễn văn Mạnh để lấy cớ hiếp dâm những người con gái vị thành niên. Chuyện đó, ở chốn kinh kỳ nầy, mọi người đều rỏ mồn một. Ha,ha,ha,ha,..

- Thực ra hôm nay tôi chỉ muốn biết lập trường cuả ông đối với nước Pháp mà thôi.

- Thưa ông, tôi xin nói thẳng rằng nước Pháp đã đến đây với một thể chế áp đặt như hồi nào. Nước Pháp chỉ muốn dân nước nầy tôn phục Mẫu quốc tuyệt đối. Những nhà cai trị Mẫu quốc chỉ nhìn vào sự phục tùng giả tạo ngoài mặt cuả những người thừa hành quả là oan uổng. Nếu hôm nay họ không thay đổi nhản quan nầy thì nước Pháp chẳng đem lại được một ích lợi nào cho xứ sở chúng tôi. Xin ông Commissaire biết cho rằng trước khi có sự hiện diện cuả người Pháp trên đất nước Việt nam, thì dân tộc Việt nam cũng đã từng bị người Tàu đô hộ hàng thế kỷ. Người Tàu cũng đã từng nói với dân tộc chúng tôi rằng họ là một dân tộc văn minh nhất trong cỏi Đông nam Á, họ muốn và chỉ muốn đến đây để giúp đở dân tộc anh em cùng mầu da nầy. Họ đã làm gì ? Vâng, họ đã có công chuyển tải vào xứ sở chúng tôi nào cày, nào bừa, nào trâu và nào bò. Họ bảo rằng họ đã có công dạy cho dân tộc chúng tôi chữ nghĩa và trí tuệ đúng với văn minh người Tàu. Họ đã lấy đàn bà Việt nam làm vợ và đã đẻ nhiều con lai chủng trên đất nước nấy. Nhưng thử hỏi ông vì duyên cớ nào mà dân tộc chúng tôi không bao giờ có thể hợp tác với người Tàu? Ha,ha,ha,ha,....

- Bởi vì người Tàu ăn cơm, còn chúng tôi thì không ăn cơm thay bánh mì được.

- Thưa ông không hẳn đúng như vậy. Thực ra cả hai nước thống trị Pháp và Tàu đều có mục đích chủ trương giống nhau. Cả hai nước Pháp và Tàu đã dùng sức mạnh đến đây với chiến thuật khai thác để trục lợi một dân tộc hiếu hoà cách tinh vi hơn. Họ đã nhân danh văn minh để tìm cách giử trử luá gạo phòng hờ đói rách. Họ đã chất đầy cao su trong xí nghiệp để sản xuất đồ tiêu dụng. Và họ đã ra công lập ra nhiều nhà ngân hàng cất giử tiền bạc thặng dư. Có điều người Tàu còn dã man hơn nửa là bọn họ cố tình đồng hoá dân tộc chúng tôi, cũng như cha ông họ đã đồng hoá tổ tiên Việt Nho chúng tôi trước khi chưa có nước Tàu nơi miền bắc Dương Tử. Tôi biết rằng chủ trương diệt chủng nầy không có trong tư duy chính trị cuả người Pháp. Bởi lẻ người Pháp ít ra còn mang nặng tinh thần luân lỶ cuả thiên chuá giáo La mã. Ha,ha,ha,ha...

- Thế ông nghỉ gì về luân lỶ Thiên chuá giáo La mã?

- Thưa ông commissaire, Nhà thờ Thiên chúa giáo là một cái gì vĩ đại. Nếu không thì làm sao mà cơ cấu nầy đã sống được cả 2000 năm? Với thời gian dài đằng đẳng nầy tôi tin rằng Thiên chúa giáo đã thu thập được một khối thông minh to lớn mà mọi người phải học hỏi. Nhưng xin ông biết cho rằng tôi là một kẻ tân tòng Nhà thờ Thiên chuá. Tôi được rửa tội trong thời gian tôi đang học tại trường các Frères De La Salle tại Pellerin. Theo tôi, Thiên chúa giáo chủ trương một loại thần học khô khan không mấy hấp dẫn, nhất là sau thời thánh Thomas d’Aquin họ chấp nhận một thái độ luân lỶ quá cứng rắn, có đôi lúc xem như thiếu khoan dung. Chẳng hạn như khi họ nói chắc nịch rằng chính Chúa bảo trên  tầng trời chỉ dành cho những người như Chúa. Điểm yếu cuả người Tây phương không cộng sản là họ đã thực thi những Ỷ kiến đó cách tỷ mỹ chu tròn. Họ xét đoán con người và sự kiện bởi ảnh hưởng luân lỶ đó. Họ suy nghỉ nhiều thật, nhưng họ không cảm nhận được bao nhiêu. Họ đã quá nhạy cảm những lời trong Thánh kinh nhưng họ không nghỉ (hoặc ít nghỉ) về hậu quả đặt lên trên đầu dân tộc chúng tôi. Đây là một căn tính tư duy tôn giáo nguy hiểm. Ha,ha,ha,ha...

- Thế ra ông không phải là người theo Thiên chuá giáo nhiệt tình?.

- Thực ra tôi đã có một yếu điểm từ ngày tôi vào học tại trường các Frères ở Pellerin. Tôi hoàn toàn bị lệ thuộc. Các Frères nói sao tôi tin vậy. Chúa sinh ra con người và tôi là con người thì tôi chỉ biết nghe theo lời Chúa đã dạy trong Thánh kinh, chẳng khác nào như một đứa con luôn luôn chỉ nên nghe theo lời cha mẹ vậy. Ông có biết không chính cha tuyên úy Nguyễn văn Thích cuả nhà trường cũng đã từng phát biểu công khai rằng ỡ truyện Kiều là bải cứt trâu ữ. Ngài chỉ nhìn vào Thánh kinh mà quên rằng việc so sánh một tác phẩm văn hoá bất tử cuả quốc gia như vậy là quá đáng. Từ ngày tôi biết suy nghỉ, tôi đâm ra hoài nghi về mọi Ỷ tưởng đó. Từ quan điểm phân tích nầy tôi đâm ra hoài nghi luôn tất cả mọi tôn giáo, chẳng trừ một tôn giáo nào, đều mang mầm móng bất hoà và bạo động. Tôi mang theo trong tâm tôi lòng bác ái cuả thiên chuá giáo nhưng tôi chỉ thờ Đạo Ông Bà. Và xin ông cũng biết cho rằng đạo Ông Bà nguyên sơ cuả dân tộc chúng tôi rất khác với những đạo Phật Đại thừa, Tiểu thừa, Bà la môn hay Khổng giáo. Những đạo nầy chỉ là một lớp vôi mỏng sơn bên ngoài, nếu có bàn tay gẩy nhẹ là tróc ngay và khi đó đạo Ông Bà sẻ hiện nguyên hình. Ha, ha, ha, ha, ha, ha....

Những chuổi cười tiếp tục cuả anh Ganh đã làm cho viên commissaire Bazan suy nghỉ. Vì từ ngày ông ta về nhậm chức Giám đốc sở Liêm phóng tại Huế đến nay, chẳng một tội nhân nào dám cười trước mặt ông cách tự nhiên như anh Ganh vậy. Đã lâu ông commissaire cũng được tin đồn anh Ganh là người điên, nhưng ông cứ hoài nghi. Nay trước sự ỡ trình diễn ữ cuả chính đương sự đã giúp ông commissaire xác nhận là đúng. Do đó ông chỉ muốn đưa ra thêm một câu hỏi cách trống rỗng hầu màn kết thúc câu chuyện ỡ giam cầm ữ nhẹ nhàng hơn.

- Vì sao ông cười luôn vậy ? Há lẻ ông là người thiếu tình cảm?

- Thưa ông commissaire đó chỉ là thói quen cuả tôi. Nhưng nếu suy nghỉ kỷ thì cũng tại vì sự sợ hãi là một cảm tính đưa con người đến đơn độc. Đây là thái độ để đưa con người đến hoài nghi và nhiều lúc dẫn con người đến hành động mất thăng bằng. Chẳng khác nào như người đàn ông kia nghi vợ mình ngoại tình và sợ tình địch hảm hại, rồi trong cơn thịnh nộ gây gỗ đã lở tay bóp chặt cổ vợ và sau đó mới nhận ra rằng vợ mình đã chết. Dù cho anh ta có hối hận bao nhiêu thì cũng là đã quá muộn. Hôm nay, trên đất nước chúng tôi, những nghi hoặc thù oán dẫn đến những bắt bớ, những tra tấn và những hành động dã man đều cũng bắt ngưồn từ cảm tính sợ hãi. Nhắc thêm để ông rỏ khi các cộng sự viên cuả ông vừa đẩy tôi vào hầm tối, trong phút ban đầu tôi mang cảm tính sợ hãi, nhưng dần dần ngày đầu đi qua, rồi ngày hai tiếp tục đi qua, tự nhiên trái tim tôi hết phập phòng và mọi sợ hãi dường như tan biến mất. Ha,ha,ha,ha,ha,ha....

Tiếng cười càng lúc càng to làm cho viên commissaire tin chắc rằng quả thật ông Ganh nầy là người điên, nên đành kỶ lệnh phóng thích cho anh ra về.

.....

Qua câu chuyện, há lẻ anh Ganh là người điên như tiếng đồn đải? Cũng như tôi, chắc độc giả không ai dám chấp nhận.

Từ ngày tổng thống Ngô đình Diệm lên nắm chính quyền, anh Ngô Ganh được mời nhậm chức Giám đốc đài phát thanh Huế. Anh đã làm việc suốt đêm ngày và đã từng được hầu hết báo chí miền Trung ca tụng. Chính anh là người có công đầu tiên trong việc thành lập một đội ngũ nhạc sĩ về ca nhạc tân cỗ hoà điệu (không hiểu có phải là tân cỗ giao duyên  như thường nói hôm nay hay không?) cho đài phát thanh Huế và anh Văn Giảng (hiện còn sống ở Melbourne) là người trực tiếp điều khiễn. Những tiếng hát tân nhạc cuả Hà Thanh đệm theo tiếng dương cầm cuả Nguyễn Khuê và những câu ca sặc mùi ỡ các Mệ ữ cuả cô Mộng Túy ngân theo tiếng đàn tranh cuả người em và ông bố ( ?) đã từng làm cho dân miền Trung một thời thán phục.

Sau bi kịch Phật giáo tại Huế 1963 do những bàn tay lông lá tạo ra để lật đỗ chính phủ Việt nam Cộng hoà, anh Ganh đã thôi việc. Vào những năm 1980, tôi có tin cho biết anh Ganh đã bị giam chết đói tại nhà lao Phủ Doãn sau 30/4/1975. Hôm nay tôi xin ghi lại đây vài dòng thương nhớ người bạn cố tri. Ước rằng đây là nén hương lòng đốt lên để cầu cho linh hồn anh Ganh ỡ sống đã khôn thì thác sẻ thiêng hơn nửa ữ.

(xin đọc bài tiếp nói về Giám đốc Ngô Ganh dành cho Thanh tra Phạm Duy trên sông Hương giang dưới thời ông Cố vấn Ngô đình Cẩn).

Lê Hùng, Bruxelles.