Ba Cay Truc

  • Tăng kích thước chữ
  • Kích thước chữ mặc định
  • Giảm kích thước chữ
Chào Mừng Bạn Đến Với Trang Báo Điện Tử­ Ba Cây Trúc **** Mọi bài vở và thư từ xin gởi về bacaytruc@gmail.com**** Có hiểu mới biết thương, có thương thì mới trọng, có trọng thì mới biết giữ gìn ****

Unicode 22: Vu an Trinh Vinh Binh và Loi thi phi NĐ

Email In

Vụ kiện CSVN của Trịnh Vĩnh Bình

Tùng Nguyên, Ngày Nay, 01-07-2005



Lưu Vũ : Nhà báo Tùng Nguyên là đặc phái viên báo Ngày Nay. Bài viết dưới đây đề cập đến một khía cạnh khác của vụ án : Sự khác biệt quan điểm giữa Hoà Lan và Việt Nam liên quan đến vụ án Trịnh Vĩnh Bình, những phản ứng của chính phủ Hoà Lan và sự thiếu hiểu biết của nhà cầm quyền VN. Nhà báo Tùng Nguyên sống tại Paris, là một chuyên viên tư vấn, trong thời gian làm việc tại Hoà Lan đã có dịp Ềtiếp cậnỂ với vụ án ở mức độ Ềthượng tầngỂ nên những đúc kết của ông rất có giá trị cho việc phân tích, đánh giá sự kiện. Bài do ông Trọng Kim, chủ nhiệm báo Ngày Nay (Houston, Texas, USA) chuyển cho Đàn Chim Việt, tiếp tục cung cấp các thông tin khách quan để bạn đọc theo dõi vụ án.

 

Vụ án Trịnh Vĩnh Bình đã và đang được chính phủ Hoà Lan quan tâm đặc biệt, vì nó xâm phạm nghiêm trọng Hiệp định Đầu tư Song phương Hòa - Việt (BIT), trong khi phía Việt Nam luôn luôn coi đó như là một vụ án cá nhân thuộc lãnh vực nội bộ của Việt Nam, do đó đã tạo ra sự căng thẳng giữa hai nước, không phải chỉ mới xảy ra trong năm nay mà đã diễn ra liên tục, từ cuối năm 1996 (lúc ông Bình bị bắt). Tuy nhiên, những nỗ lực của Hòa Lan trong lãnh vực ngoại giao ỀngầmỂ đã không mang lại kết quả nào, sau đó vụ án được công khai trên báo chí và dư luận từ đầu năm 2000 (khi ông Bình bị tuyên án 11 năm tù và bị tịch thu toàn bộ tài sản). Trước các phản ứng của chính phủ Hòa Lan từ âm thầm nhưng mạnh mẽ qua đường ngoại giao (1996 Ố 2000), đến áp lực công khai qua dư luận và báo chí (2000 Ố 2004), nhà cầm quyền VN, do thái độ thiếu hiểu biết và coi thường luật pháp, tiếp tục im lặng trước những đòi hỏi chính đáng của phía Hoà Lan, nên vụ án Trịnh Vĩnh Bình đã và đang bước sang giai đoạn nghiêm trọng và có thể gây thiệt hại lớn lao cho đất nước.



Đầu năm 2000 chúng tôi nhận được một tập hồ sơ 752 trang (đã được cơ quan lưu trữ gạn lọc và đánh số thứ tự) từ văn phòng Hội đồng chính phủ Hoà Lan, bao gồm các văn kiện và tài liệu liên quan đến vụ án Trịnh Vĩnh Bình, nhiều văn kiện có đóng đấu MẬT nhưng đã được gạch chéo, nghĩa là hồ sơ đã được giải mã và có thể phổ biến công khai. Nhiệm vụ của chúng tôi là nghiên cứu tập hồ sơ và đúc kết cho chính phủ Hoà Lan. Sau khi tham khảo toàn bộ hồ sơ, chúng tôi đã đúc kết thành một bản Tổng lược vụ án Trịnh Vĩnh Bình (5 trang) gởi cho Hội đồng chính phủ, một tuần sau, chúng tôi được mời đến Văn phòng Hội đồng để gặp Giáo sư Tiến sĩ Kỹ sư J.J.C. Voorhoeve, sau khi thảo luận về bản Tổng lược, ông yêu cầu chúng tôi thực hiện bước thứ hai : lập bản Tóm lược những vấn đề cơ bản trên cơ sở luật pháp của vụ án Trịnh Vĩnh Bình, bản Tóm lược này chúng tôi đúc kết trong bốn trang nhưng các văn kiện và chứng từ kèm theo lên đến 200 trang, ngoại trừ các văn kiện bằng tiếng Anh và tiếng Hòa Lan, chúng tôi còn phải chuyển ngữ khoảng 140 trang từ tiếng Việt sang tiếng Anh hay tiếng Hòa Lan. Sau này chúng tôi được biết công việc mình đang làm là do sự đòi hỏi của một số Dân biểu Hòa Lan muốn công khai hóa hồ sơ vụ án Trịnh Vĩnh Bình, nên Hội đồng chính phủ với nhiệm vụ Hoà giải ra tay trước, tránh cho Chính phủ và bộ Ngoại giao bị Quốc hội đàn hạch.


VN làm ngơ trước các đòi hỏi của Hòa Lan



Trong bài này, tôi muốn đề cập đến sự khác biệt về quan niệm giữa hai chính phủ Hoà Lan - Việt Nam, những nỗ lực ngoại giao và áp lực chính trị của chính phủ Hoà Lan liên quan đến vụ án Trịnh Vĩnh Bình, dựa vào những tài liệu có sẵn và nhật kỶ công việc của cá nhân, cũng như những sự việc mà bản thân có tham dự vào. Qua đó, độc giả có thể hiểu được nguyên do nào dẫn đến tình trạng tồi tệ và nghiêm trọng như hiện nay. (Tôi xin mở ngoặc ở đây để nói thêm về ông Voorhoeve, người điều phối và thúc đẩy các nỗ lực từ phía Hòa Lan trong vụ án Trịnh Vĩnh Bình, ông có văn bằng Tiến sĩ Ngoại giao Mỹ, tốt nghiệp Kỹ sư Kinh tế và Luật Quốc tế, là một chính khách có nhiều uy tín chính trị, hiện là một trong 18 thành viên của Hội đồng chính phủ, giảng viên về Quan hệ Quốc tế tại Đại học Amsterdam và Leiden, cựu chủ tịch đảng cầm quyền Dân chủ Tự do, cựu Dân biểu quốc hội từng là lãnh tụ khối đa số tại Hạ viện, cựu Bộ trưởng Quốc phòng, Giám đốc Viện Bang giao Quốc tế, từng là cố vấn cho nhóm chuyên gia soạn thảo Bộ luật Đầu tư của Liên Bang Nga (hậu Cộng sản), vợ ông là người Nga và ông có một thiện cảm đặc biệt với Việt Nam).

Bằng một cử chỉ thân thiện, ông Voorhoeve đã đến thăm Đại sứ Đinh Hoàng Thắng ngày 28/06/2000, khi Việt Nam vừa thiết lập toà Đại sứ tại Den Haag. Trong dịp này, ông Voorhoeve đã trao cho ông Thắng (vị đại sứ đầu tiên của Việt Nam tại Hòa Lan) tập hồ sơ vụ án Trịnh Vĩnh Bình bằng tiếng Việt (550 trang) với những đề nghị cụ thể cho phía Việt Nam : Khẩn cấp giải quyết vụ án ông Bình bằng một phiên tòa công khai, hoặc ân xá và hoàn trả tài sản cho ông, vì hậu quả cuả nó đang làm xấu đi hình ảnh Việt Nam, ảnh hưởng trực tiếp đến nền bang giao và đầu tư giữa hai nước. Ông Thắng hứa sẽ báo cáo nội dung cuộc gặp gỡ này về bộ Ngoại giao Việt Nam. Để hỗ trợ cho những đề nghị này và tạo áp lực lên phía Việt Nam, ông Voorhoeve đã yêu cầu Thủ tướng Wim Kok, bộ trưởng Ngoại giao Hoà Lan Van Aartsen gởi thư trực tiếp đến Chủ tịch nước Việt Nam Trần đức Lương yêu cầu giải quyết vụ án ông Bình, đồng thời triệu hồi Đại sứ Thắng đến Bộ Ngoại giao để phản đối. Đây là hành động khởi đầu cho một chuỗi các hành động gây bất lợi cho Việt Nam từ phiá chính phủ Hoà Lan.

Từ phía Quốc hội, là cơ quan cao nhất theo Hiến pháp Hoà Lan, sau khi nhận được đầy đủ tài liệu liên quan đến vụ án, các dân biểu đã công khai áp lực lên phía Việt Nam bằng cách không thông qua nhiều hiệp ước, cắt giảm viện trợ phát triển và nhân đạo, đặc biệt trong các dịp có phái đoàn Việt Nam đến thăm Hoà Lan, các dân biểu đã thay nhau đặt vấn đề vụ án Trịnh Vĩnh Bình. Trong dịp phái đoàn Quốc hội Việt Nam do ông chủ tịch Nguyễn văn An dẫn đầu, dân biểu Hessing thuộc Ủy ban Đối ngoại củả òa Lan đã cảnh cáo : ỀPhía Việt Nam cần tôn trọng những điều đã cam kết trong Hiệp định Đầu tư (BIT) giưã hai nước, vụ án ông Bình là một sự vi phạm hiệp định và là rào cản trong bang giao giữa hai nướcỂ. Phiá Việt Nam thừa nhận ở tầm mức địa phương đã gây ra sai trái và cam kết sẽ giải quyết gấp theo yêu cầu của Hoà Lan, lời hứa này đến nay vẫn chưa được thực hiện. Ghi nhận bên lề : Trong bữa tiệc do Quốc hội Hoà Lan khoản đãi phái đoàn Việt Nam, một đại biểu Quốc hội Việt Nam đã tâm sự với ông Hessing : ỀQuốc hội Hoà Lan họp cả năm, chỉ nghỉ có một tháng Hè, trong khi các khóa họp của Quốc hội chúng tôi cả năm cộng lại không quá 30 ngày, chưa kể quyền hạn của chúng tôi chỉ mang tính cách tượng trưng, thì làm sao chúng tôi có thể đáp lại những yêu cầu của quỶ vịỂ.

Một tháng sau, trong chuyến viếng thăm đáp lễ của phái đoàn Quốc hội Hoà Lan, do bà Chủ tịch Nieuwenhoven làm trưởng đoàn. Ngoài các dân biểu do Quốc hội sắp đặt, Hội đồng Chính phủ đề nghị ba dân biểu tháp tùng theo phái đoàn gồm ông Hessing (chủ tịch nhóm 38 dân biểu thuộc đảng Dân chủ Tự do) bà Dijksma (thành viên chủ tịch đoàn Quốc hội, phát ngôn viên chính thức của đảng Xã hội đang nắm chính quyền với 45 ghế trong Quốc hội) ông Ter Veer (thành viên Ủy ban Ngoại giao, thuộc đảng Dân chủ 66 dù chỉ có 14 ghế trong Quốc hội, nhưng đang liên kết với đảng Xã hội trong liên minh cầm quyền). Ba dân biểu này có nhiệm vụ nói thẳng cho Việt Nam biết rõ quan điểm của Hoà Lan trước vụ án Trịnh Vĩnh Bình. Việc đề nghị ba dân biểu này mang Ỷ nghĩa đa số trong quốc hội (tổng số 97 ghế) đồng Ỷ đặt vấn đề vụ án với nhà cầm quyền VN.

Theo nhật kỶ công tác sau chuyến đi Việt Nam của phái đoàn Quốc hội nói trên có các đoạn sau : ỀThông qua Đại sứ Việt Nam tại Den Haag, chúng tôi (cả Hành pháp lẫn Lập pháp) đã kêu gọi nhà cầm quyền VN xét lại vụ án Trịnh Vĩnh Bình và trả lại tài sản cho ông, một hành động như vậy về phiá Việt Nam sẽ được dư luận Hoà Lan và Quốc tế coi như là một biểu hiện của thiện chí, phục hồi niềm tin về sự công minh và tính nhân đạo của luật pháp Việt Nam, giải tỏa các trở ngại trong quan hệ hai nước mà lẽ ra phải được tiến triển tốt đẹpỂ. Trong một đoạn khác phía Hòa Lan đã đặt vấn đề một cách trực tiếp hơn : ỀChúng tôi biết rõ đây là một trường hợp phức tạp, không thuần túy mang tính chất pháp lỶ hay chính trị, mà còn mang nhiều yếu tố khác, chính vì vậy chúng tôi muốn giải quyết cho xong vụ này, vì càng để lâu càng ảnh hưởng không tốt tới quan hệ song phương. Chúng tôi không muốn đi sâu vào khía cạnh pháp lỶ, vì chính bản thân dư luận tại Việt Nam cũng không thống nhất được với nhau về các yếu tố cấu thành tội phạm, những Ỷ kiến của các tổ hợp luật sư cũng như những trao đổi giữa các viên chức trong nhà cầm quyền VN, đã cho thấy rõ điều này. Chúng tôi cũng không muốn can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, chúng tôi chỉ muốn qúy vị chứng tỏ rằng thực sự Việt Nam muốn trở thành đối tác tin cậy của Hoà Lan, và sự tin cậy bao giờ cũng là con đường hai chiều. Chúng tôi hy vọng sớm nhận được hồi âm tích cực từ phía Việt NamỂ. Ngoại trưởng Nguyễn Dy Niên thừa nhận có sự sai sót trong vụ án ông Bình và hứa sẽ yêu cầu cơ quan chức năng điều tra lại. 

Tưởng cũng cần nói thêm, để chuẩn bị cho chuyến đi của phái đoàn Quốc hội nói trên, tháng 10/2000 nhật báo De Telegraaf, tờ báo có uy tín lớn nhất Hòa Lan đã cử một đội phóng viên do kỶ giả Charles Sanders hướng dẫn, đến tiếp xúc trực tiếp với ông Bình tại một điạ điểm bí mật, phỏng vấn các chính khách Hoà Lan và cử phóng viên theo phái đoàn Quốc hội sang Việt Nam để tìm hiểu tại chỗ, sau đó De Telegraaf đã cho chạy liên tiếp sáu bài liên quan đến vụ án, khiến dư luận nóng nên, lôi kéo sự quan tâm của các viên chức trong chính phủ, các dân biểu trong Quốc hội và lan sang cả Nghị hội Âu châu, làm cản trở hoặc trì hoãn nhiều dự án dành cho Việt Nam trong suốt ba năm liền và còn tác hại cho đến ngày nay. Sự im lặng của nhà cầm quyền VN chỉ có thể giải thích do thái độ coi thường dư luận, không đếm xiả gì đến các đòi hỏi chính đáng từ phía Hòa Lan. (Vào thời điểm này, báo Ngày Nay cũng đã có một loạt năm bài liên quan đến vụ án Trịnh Vĩnh Bình, tạo ra luồng dư luận sôi nổi về phiá người Việt trong cũng như ngoài nước, nhưng chính quyền Hà Nội vẫn nhắm mắt làm ngơ như người Ềđiếc không sợ súng)Ể.

Áp lực quốc tế

Tại Quốc hội Âu châu, các dân biểu Hoà Lan cũng liên tiếp nêu vấn đề ông Bình trong những dịp tiếp xúc với các phái đoàn quan chức Việt Nam, Trong dịp Phái đoàn Việt Nam đến thăm Quốc hội Âu châu, Dân biểu Jules Maaten, thuộc ủy ban Đối ngoại Quốc hội Âu châu đã phát biểu : ỀTrong những ngày qua, chúng tôi bàn thảo đến nghị quyết về nhân quyền tại Việt Nam, trong đó mục đầu tư ở mức độ Âu châu là một mục nóng (do ảnh hưởng bởi vụ án Trịnh Vĩnh Bình). Bây giờ, tôi được nghe chính đảng Cộng sản Việt Nam trong một báo cáo thừa nhận rằng : ông Bình là nạn nhân của cán bộ địa phương. Tôi không chờ đợi cho đến khi ông Bình được phục hồi, mà đã trực tiếp đến gặp Đại sứ Đinh Hoàng Thắng tại Den Haag và Đại sứ Tôn Nữ thị Ninh tại Bruselles, tôi cũng đã viết thư đến tất cả các Sứ quán Việt Nam tại Âu châu để bày tỏ sự bất mãn của mình, tôi cũng sẽ nghiên cứu việc thông báo cho các đồng nghiệp trong Quốc hội Mỹ. Hiện có nhiều tín hiệu cho thấy Hà Nội đang muốn tiếp xúc với Liên hiệp Âu châu, nhưng trước hết những sai trái phải được sửa chữa. Bằng không, về phần tôi, cánh cửa sẽ đóngỂ. Một tuần sau Quốc hội Âu châu thông qua Nghị quyết lên án Việt Nam vi phạm nhân quyền với những biện pháp chế tài kèm theo, tác giả của bản văn này chính là ông Maarten, trong bản nghị quyết cũng nhắc đến vụ án Trịnh Vĩnh Bình như một trường hợp điển hình.

Trong năm 2000 đã có tất cả 8 phái đoàn Việt Nam đến thăm Hoà Lan, từ Chủ tịch nước Trần Đức Lương, Thủ tướng Phan Văn Khải, phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An đến các phái đoàn Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên, Thứ trưởng Nguyễn Đình Bin, Bộ trưởng Công nghiệp, Bộ trưởng Đầu tư và Phát triển... đều gặp sự tiếp đón lạnh nhạt hoặc chống đối từ phía Hoà Lan, báo chí gọi các phái đoàn này là những người Ềkhách không mời mà đếnỂ hay tệ hại hơn là những con vẹt Ềchỉ biết nói mà không biết ngheỂ. Trong khi đó, báo chí tại Việt Nam thì khi tường thuật các chuyến đi này, luôn luôn được đánh giá là thành công.

Trước phản ứng khó hiểu và không tôn trọng các nguyên tắc ngoại giao của Việt Nam, một số đân biểu đã yêu cầu Chủ tịch ủy ban Ngoại giao Hạ viện Hoà Lan, bà Margareeth de Boer, dẫn đầu một phái đoàn khác đến Việt Nam và trực tiếp gặp Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên, trong dịp này bà nhấn mạnh : ỀVì quyền lợi cuả hai nước, vụ án cần được giải quyết tức khắc, sự chậm trễ có thể dẫn đến việc chấm dứt viện trợ Phát tiển từ phiá Hòa LanỂ. Kết quả phía Hoà Lan nhận được một công hàm của bộ Ngoại giao Việt Nam thông báo về vụ án Trịnh Vĩnh Bình với nội dung Ềbắt đúng người, xử đúng tội, áp dụng đúng luật phápỂ. Đây cũng là phản ứng duy nhất mà Hoà Lan nhận được từ phiá Việt Nam. 

Sự khác biệt quan điểm về vụ án Trịnh Vĩnh Bình giữa hai chính phủ Hoà Lan và Việt Nam đã dẫn đến tình trạng bế tắc, và vụ án chuyển sang một khúc quanh mới nghiêm trọng và tệ hại. Chính phủ Hoà Lan coi vụ án như là một vi phạm Hiệp định Đầu tư Song Phương giữa hai nước Hòa - Việt (BIT). Cũng giống như Hiệp định Thương mại Song Phương Việt - Mỹ (BAT) hiệp định BIT quy định không chỉ các nguồn đầu tư trực tiếp của các doanh nghiệp Hoà Lan vào Việt Nam mà bao gồm cả việc đầu tư thông qua các công ty con hay thân nhân ở trong nước (còn gọi là đầu tư đội nón) cũng được luật pháp Hòa Lan bảo vệ, ngay cả phía Việt Nam thông qua Quyết định của Thủ tướng chính phủ số 767-TTG ngày 17/09/1997 cũng thừa nhận việc đầu tư thông qua thân nhân là hợp pháp. Phía nhà cầm quyền VN, trên lỶ thuyết, coi vụ án Trịnh Vĩnh Bình như một vụ án cá nhân và là công việc nội bộ của Việt Nam, chính do sự thiếu hiểu biết này đã dẫn đến thái độ thờ ơ hoặc xem các phản ứng của Hòa Lan như là một sự can thiệp vào nội bộ của Việt Nam. Nhưng trên thực tế, dưạ theo các tài liệu trao đổi giữa Thủ tướng Phan Văn Khải với Bộ trưởng Công an Lê Minh Hương, phát biểu của Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình tại Quốc hội, công văn ỀMậtỂ của Ban chấp hành Trung ương Đảng do chánh văn phòng Trần Đình Hoan gởi các cơ quan nhà nước... đã chứng tỏ nhiều viên chức Việt Nam biết rõ ông Trịnh Vĩnh Bình vô tội và Ỷ thức được tầm mức quan trọng cuả vụ án đối với công tác ngoại giao giữa hai nước. 

Mặt khác, theo các tài liệu phía Hoà Lan thu thập được từ Việt Nam, thì các thông điệp của Hoà Lan gởi cho Việt Nam đều được truyền đạt đầy đủ qua Đại sứ Đinh Hoàng Thắng. Ông Thắng trong suốt nhiệm kỳ ba năm của mình (2000 - 2003) đã không làm được gì nhiều cho công tác ngoại giao, vì gần như mỗi ngày ông phải ghi nhận và báo cáo các phản ứng của Hòa Lan về vụ án Trịnh Vĩnh Bình. Chúng tôi trích đăng một phần các báo cáo này, để dư luận thấy rằng các viên chức Việt Nam biết rất rõ những đòi hỏi từ phía Hòa Lan : ỀNgày 23/03/2001 nhóm Nghị sỹ Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Hoà Lan và Quốc hội châu Âu (Blaaw, Maaten, Hoekema, Hessing) yêu cầu tôi báo cáo về Quốc hội và Bộ Ngoại giao Việt Nam, đề nghị can thiệp gấp, không để tỉnh Vũng Tàu kê biên tài sản và phát mãi dưới mức giá trị nhiều lần Công ty Bình Châu với vốn 100 % của công dân Hoà Lan gốc Việt Trịnh Vĩnh Bình. Ngày 26/03 Ủy viên Hội đồng Nhà nước Voorhoeve, lại một lần nữa, trực tiếp gọi điện thoại cho tôi, nhắc lại yêu cầu này : Đại diện nhà thờ Tin Lành, Cộng đồng doanh nghiệp Hoà Lan, Các doanh nghiệp Việt Nam tại Hoà Lan, cùng gia đình đương sự cũng đề nghị chính phủ ta can thiệp trường hợp trên. Trong tiếp xúc, phía Hoà Lan khẳng định : Quốc hội và Bộ Ngoại giao Hoà Lan vẫn tiếp tục đợi trả lời chính thức của Quốc hội và Bộ Ngoại giao Việt Nam, sau nhiều lần đặt vấn đề cả ở La Hay lẫn Hà Nội, về yêu cầu ân xá và giải quyết ôn thỏa vấn đề tài sản của ông Trịnh. Hoà Lan hy vọng, công dân Hoà Lan gốc Việt này sẽ được khoan hồng, đặc biệt từ sau khi Việt Nam công khai trên phương tiện thông tin đại chúng, nhân Đại hội Đảng bộ Vũng Tàu có Trung Ương về dự ngày 04/01/2001 rằng : ỀVụ Trịnh Vĩnh Bình là một vụ xử sai, làm giảm sút lòng tin cuả nhân dân, ảnh hưởng đến thu hút đầu tư nước ngoài, vì thế cấp trên đã thi hành kỷ luật Đảng bộ Vũng TàuỂ. Ngày 28/03, Nghị sỹ Jules Maaten, Quốc hội Âu châu, từ Brúc-xen, Bỉ viết thư cho tôi yêu cầu trả lời những vấn đề ông đã đứng tên cùng nhóm Nghị sỹ trong Hạ Viện Hoà Lan nêu ra với ta ngày 23/03. Bức thư khẳng định, trường hợp Trịnh Vĩnh Bình đang gây hoang mang trong giới đầu tư châu Âu và vụ án có thể sẽ tác động tiêu cực đến quan hệ giữa EU với Việt Nam, điều mà hai bên nên hết sức tránh để xẩy ra. Ngày 02/04, tại cuộc gặp gỡ thường kỳ giữa Ngoại trưởng Van Aartsen với một số Đại sứ trong khuôn khổ Câu lạc bộ châu Á, một quan chức bộ Ngoại giao Hoà Lan cũng đã lưu Ỷ tôi về quyết định của Sở Tư pháp Vũng Tàu phát mãi tài sản Trịnh Vĩnh Bình và yêu cầu Bộ Ngoại giao Việt Nam có biện pháp can thiệp gấp đối với đề nghị trước đây của các nghị sỹ/chính khách Hoà LanỂ.

Ảnh hưởng tai hại

Qua sự tiết lộ của các tài liệu trên đây, chứng tỏ phía nhà cầm quyền VN biết rõ vụ án Trịnh Vịnh Bình là sai trái và nắm rất vững những đòi hỏi của chính quyền Hoà Lan. Chưa kể những phân tích pháp lỶ vụ án Trịnh Vĩnh Bình của Trung tâm Pháp luật Thăng Long (Hà Nội) và của Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh (Sài Gòn) mà chắc chắn các viên chức nhà cầm quyền VN đều biết. Thế nhưng không một cơ quan hữu trách nào đáp ứng những đòi hỏi chính đáng từ phía Hoà Lan, dù chỉ là hình thức. Điều này chỉ có thể giải thích là đàng sau nhà cầm quyền VN có một quyền lực chi phối mọi hành động và quyết định mọi vấn đề đó là Đảng Cộng sản Việt Nam.

Vụ án Trịnh Vĩnh Bình, khởi đầu là một vụ án Kinh tế, khi bị chi phối bởi các thế lực đen nó biến thành vụ án Chính trị, do sự bất lực và vô trách nhiệm của nhà cầm quyền VN nó trở thành tranh chấp ngoại giao giữa hai nước, tiếp theo là thái độ coi thường luật pháp cùng những quy tắc ngoại giao của phía Việt Nam, vụ án trở thành nghiêm trọng và đang là điển hình cho một tranh chấp mang tính chất quốc tế, là bài học cho cả hai chính quyền Hoà Lan và Việt Nam. Trong Ỷ nghĩa này, một nhà xuất bản các sách nghiên cứu Hoà Lan đã kỶ hợp đồng với một nhóm luật gia và kinh tế gia Hòa Lan, đúc kết các diễn tiến vụ án ông Bình vào một cuốn sách với ba ấn bản Anh ngữ, Hoà Lan và Việt Nam, dự trù sẽ ra mắt vào cuối năm nay. Dĩ nhiên các phản ứng của chính phủ Hoà Lan và Việt Nam liên quan đến vụ án sẽ được ghi nhận và phân tích, do đó dù muốn dù không, cuốn sách cũng sẽ tạo ảnh hưởng bất lợi lâu dài cho Việt Nam.

Kể từ ngày 15/10/2003, vụ án Trịnh Vĩnh Bình bước sang giai đoạn mới, vượt ra khỏi lãnh vực của hai nước Hòa Lan và Việt Nam, khi ông Trịnh Vĩnh Bình chính thức nhờ tập đoàn Luật sư Covington Burling đứng ra kiện nhà cầm quyền Việt Nam trước Tòa án Quốc tế sẽ xử tại Thụy Điển chiếu theo bản Hiệp định BIT và đòi bồi thường 100 triệu đô la Mỹ, trong khi số tiền ông Bình đầu tư vào Việt Nam mới khoảng 4 triệu . Lại một lần nữa, nhà cầm quyền VN do thiếu hiểu biết và chủ quan đã đánh mất cơ hội hòa giải, khi luật sư Thomas Johnson đại diện cho ông Bình gởi thư cho ông Viện trưởng Viện kiểm sát Nhân dân Tối cao Hà Minh Trí, đề nghị giải quyết bằng thương thuyết, song mọi nỗ lực dàn xếp trong gần hai năm qua đã không đạt được kết quả, ông Bình đã chính thức nộp đơn kiện hồi tháng 5/2004 và sẽ được xét xử công khai vào đầu năm 2006. Phía Việt Nam cũng đã kỶ quỹ 150 ngàn đô la để nhờ tổ hợp Luật sư Glide Loyrette Rouel tại Pháp đại diện, nghĩa là Việt Nam từ chối hoàn trả số tiền đã cưỡng đoạt của ông Bình để chấp nhận bồi thường gấp 24 lần giá trị ban đầu nếu thua kiện.

Vụ án, theo một bài phân tích từ trong nước gởi ra cuả ông Trần Quốc Hoàn, mang rất nhiều Ỷ nghĩa khác nhau, nó tố cáo chế độ cộng sản ở nhiều mặt và dù ông Bình thắng hay thua thì Việt Nam cũng thiệt hại nặng nề về uy tín và vật chất. Đặc biệt số tiền đòi bồi thường 100 triệu đô la là một số tiền quá lớn đối với một nước nghèo khó như Việt Nam, với số tiền đó, theo tác giả bài báo cho biết có thể xây dựng được hơn 200 trường học khang trang hiện đại, khoảng 30 bệnh viện lớn, hoặc giúp cho 160.000 hộ gia đình thoát khỏi cảnh đói nghèo. Và nếu chia đầu người 82 triệu dân Việt Nam phải gánh chịu, thì già trẻ lớn bé mỗi người đều phải đóng 20.000 đồng mới đủ để trả cho ông Trịnh Vĩnh Bình, chưa kể án phí sẽ là bao nhiêu nữa.

Chuyện Ềvua chả giòỂ Trịnh Vĩnh Bình
Tú Gàn, Cali, 03/2007

Vụ Việt kiều kiện VC

Trong thời gian gần đây, nhà cầm quyền Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách nhằm dụ người Việt ở hải ngoại đem tiền về đầu tư ở trong nước.

 

Trong cuộc hội thảo ngày 21/09/2006 tại Đà Nẵng, dưới đề tài ỀDoanh nhân Việt Nam ở nước ngoài với sự nghiệp xây dựng, phát triển và hội nhập kinh tế Quốc tế của Việt NamỂ, ông Nguyễn Ngọc Phúc, Thứ Trưởng Bộ Kế Họach và Đầu Tư, cho biết tính đến ngày 30/07/2006, đã có 1.465 dự án của người VN định cư ở nước ngoài về nước đầu tư với tổng số vốn đăng kỶ trên 4.925 tỷ đồng (khoảng 380 triệu USD), trong đó có 23 dự án được cấp giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư. Các doanh nhân này từ 36 quốc gia trên thế giới, nhiều nhất là từ Mỹ có 674 dự án với vốn đăng kỶ trên 4.159 tỷ đồng (chiếm 49,8 % tổng số vốn đầu tư). Kế đến Úc có 237 dự án, với vốn đăng kỶ 1.050 tỷ đồng (chiếm 12,5 % tổng số vốn đầu tư)Ẩ, v.v.

Chúng tôi tin rằng số người Việt hải ngoại đem vốn về Việt Nam làm ăn từ 1990 đến nay cao hơn con số mà Thứ Trưởng Nguyễn Ngọc Phúc đưa ra rất nhiều, nhưng đa số đã ngậm đắng nuốt cay trở về, chẳng dám tiết lộ với những người chung quanh vì sợ bị nguyền rủa. Trong cuộc điều trần tại Paris ngày 10/11/2001, Giáo sư Trần Đại Sĩ cho biết theo cuộc sưu tầm của ông, trong vòng 10 năm, từ 1990 đến 2000, có 204 hồ sơ của người Việt hải ngoại đem vốn về Việt Nam từ 1,5 triệu USD trở lên, đã bị mất trắng. Ông nêu ra hai vụ điển hình là vụ Trịnh Vĩnh Bình đầu tư về sản xuất và xuất khẩu hải sản ở Ba Rịa Ố Vũng Tàu, và vụ Hoareau Jules, một người Pháp gốc Việt, đầu tư về khách sạn ở Sài Gòn (Hotel-Restaurant Quick ở đường Nguyễn Đình Chiểu, Quận 3).

Hiện nay, có hai vụ án lớn về đầu tư tại Việt Nam đang làm người Việt hải ngoại xôn xao, đó là vụ án Trịnh Vĩnh Bình (xí nghiệp Tín Thành và Công ty Bình Châu ở Sài Gòn và Bà Rịa - Vũng Tầu) và vụ án Nguyễn Đình Hoan (Trường Quốc Tế ở Hà Nội).

Việc tìm tài liệu đầy đủ để trình bày hai vụ án này không phải là chuyện dễ. Các báo trong nước thường trình bày Ềtheo định hướng xã hội chủ nghĩaỂ, tức chỉ nói những cái gì có lợi cho Đảng và Nhà Nước. Còn ở hải ngoại, các cơ quan truyền thông thường bị bắt buộc phải rập khuôn theo Cộng Sản, trình bày Ềtheo định hướng chống cộngỂ, tức chỉ được nói những gì có tác dụng chống cộng, còn những gì bị coi là Ềkhông có lợi cho việc chống cộngỂ đều phải che dấu đi. Thậm chí có những tin tức hay bình luận chỉ nêu lên được một vài sự kiện nhỏ rồi từ đó chửi Cộng Sản vung xích chó lên, có khi bằng những lời lẻ rất bẩn thỉu, khiến độc giả và thính giả không thể biết được những gì đã thật sự xẩy ra.

Chúng tôi nghĩ rằng trong vấn đề trở về Việt Nam làm ăn, cần phải cố gắng trình bày một cách khách quan mới có thể giúp đồng hương rút ra được những bài học kinh nghiệm.

TRỞ THầNH ỀVUA CHẢ GIồỂ

Ông Trịnh Vĩnh Bình sinh năm 1947 tại Sóc Trăng, Năm 1976 ông cùng vợ con vượt biên và được đến định cư tại Hoà Lan. Ông Bình đi học lại và tốt nghiệp đại học, nhập tịch Hòa Lan và gia nhập đảng Dân Chủ Tự Do của Hòa Lan, Về phương diện kinh doanh, với hai bàn tay trắng, ông Bình đã trở nên giàu có nhờ sản xuất và phân phối chả giò tại Hòa Lan và được báo chí Hòa Lan gọi là Ềvua chả giòỂ.

Theo báo Công An Nhân Dân (CAND) ngày 06/06/2005, từ năm 1981 đến tháng 08/1998, ông Trịnh Vĩnh Bình đã nhập cảnh Việt Nam 63 lần và cứ mỗi lần như thế, ông lại đem theo vàng, đôla Mỹ. Tổng cộng số tài sản mà Bình mang vào là 2.338.250 USD và 96 kỶ vàng.

Nếu lời tường thuật này là đúng, thì đây không phải là chuyện bình thường. Như chúng ta đã biết, năm 1981 là năm Đảng CSVN đang thực hiện chương trình Ềcải tạoỂ nông nghiệp và công thương nghiệp để Ềtiến lên xã hội chủ nghĩaỂ. Chữ Ềcải tạoỂ ở đây là một thuật ngữ được dùng để chỉ các phương pháp và thủ đoạn được áp dụng để biến dần tài sản của dân chúng thành Ềtài sản xã hội chủ nghĩaỂ. Do đó, đời sống của dân chúng ngày càng khốn cùng, nên số người bỏ nước ra đi ngày càng tăng. Giữa tình trạng như vậy, làm sao ông Bình có thể đưa vốn về Việt Nam làm ăn ?

Chúng tôi nghĩ rằng trong những năm đầu, ông Bình chỉ đem một số tiền về cho những người thân sinh sống. Phải đến năm 1986, khi Việt Nam theo Liên Sô, thức hiện chính sách ỀĐổi MớiỂ, các doanh nhân ngoại quốc mới bắt đầu đến Việt Nam thăm dò để làm ăn. Riêng người Tàu đến để tìm cáchụ buôn lậu. Phải đến đầu thập niên 1990, ông Bình mới có thể nghĩ đến việc về Việt Nam làm ăn. Năm 1994, Việt Nam và Hòa Lan (Nethreland) mới kỳ Hiệp ước song phương về đầu tư. Thực tế cho thấy ông Bình chỉ bắt đầu đầu tư ở Việt Nam sau khi có hiệp ước này. Ông Bình đã làm ăn những gì ở Việt Nam ?

LỐI LầM ĂN CỦA ÔNG BỉNH

Theo tài liệu, trong hai năm, từ 1994 đến 1996, ông Bình đã thành lập công ty Tín Thành, một công ty trách nhiệm hữu hạn, để chế biến và xuất cảng nông hải sản. Nhà máy của ông Bình xử dụng khoảng 500 công nhân và số lượng hải sản do ông Bình chế biến để xuất khẩu chiếm khoảng 35 % tổng sản lượng hải sản bắt được của tỉnh Bà Rịa Ố Vũng Tàu.

Ông Bình được phép mua một số nhà đất tại tỉnh Bà Rịa Ố Vũng Tầu và thành phố Sài Gòn để phục vụ cho việc đầu tư sản xuất của mình. Ngoài ra, ông Bình cũng đã xây một khách sạn 10 tầng tại Sài Gòn.

Ông Bình làm lợi cho Ềchủ nghĩa xã hộiỂ như vậy, tại sao ông ta bị bắt, rồi bị truy tố và bị tuyên án nặng ?

Cũng theo báo CAND số ra ngày 06/06/2005, tại thời điểm này, luật pháp Việt Nam chưa cho phép Việt kiều được mua bán, sở hữu, đứng tên nhà cửa, đất đai, nhưng ông Bình muốn đầu tư vào bất động sản để kiếm lời nên đã nhờ Trịnh Hiền Thanh chạy tiền để làm hộ khẩu giả cho mẹ vợ là bà Nguyễn Thị Thi, và các em vợ là Phạm Thị Huệ, Phạm Thị Bé, Phạm Thị Tuyết Hằng. Tất cả những người này đã có hộ khẩu thường trú tại huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp, nhưng lại có thêm hai hộ khẩu nữa, một ở Sài Gòn và một huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Vợĩ chồng cháu gái của Trịnh Vĩnh Bình là Trịnh Mộng Kiều và Triệu Văn Dữ cũng như Trịnh Hiền Thanh cũng chạy tiền để vừa có hộ khẩu ở Sài Gòn vừa có hộ khẩu ở Bà Rịa - Vũng Tàu.

Mục tiêu của việc cho những người thân làm hộ khẩu tại nhiều nơi là để có thể đứng tên sở hữu nhà cửa, đất đai tại Ba Rịa Ố Vũng Tàu và xin nhận đất trồng rừng.

Cho đến tháng 06/1996, số bất động sản ông Bình đã tậu được và do những người thân nói trên đứng tên là 11 căn nhà, 114 nền nhà và 2.847.745 m2 đất.

Năm 1992, ông Bình đã thành lập Liên doanh trồng rừng Bình Châu để xin nhận đất trồng rừng theo chương trình 327, rồi cho mẹ vợ cùng các em vợ nhận 216 hécta đất thuộc huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để trồng rừng. Theo báo CAND nói trên, để được nhà cầm quyền địa phương chấp thuận, ông Bình đã bảo nhân viên đưa hối lộ cho Tạ Quang Luyện, cán bộ Công ty Phát Triển Nhà tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, và Nguyễn Văn Huế, cán bộ Chi nhánh Phát Triển Kinh Tế Nông Thôn Phía Nam, một số tiền là 510 triệu đồng

Cũng theo báo CAND, mục đích của Trịnh Vĩnh Bình là nhằm đầu cơ đất đainên  trên 216 hécta này, Bình chỉ trồng rừng cho có. Khi Ủy Ban Nhân Dân huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tiến hành kiểm tra, số đất ấy hầu như vẫn giữ nguyên hiện trạng khi giao cho mẹ vợ Trịnh Vĩnh Bình.

Hợp thức hóa các xong thủ tục, Trịnh Vĩnh Bình bắt đầu bán nhà, bán đất và thu lợi được 19.806.500.000 đồng.

BỊ CÔNG AN CHIẾU CỐ

Ngày 04/10/1996. có lẽ theo sự hướng dẫn của Công An, Trịnh Hiền Thanh, người làm công tác giao dịch với nhà cầm quyền của ông Bình, đã làm đơn tố cáo các việc làm bị coi là phi pháp của ông Bình. Căn cứ vào đơn này, Công An đã mở cuộc điều tra. Cuộc điều tra kéo dài hơn một năm. Ngày 03/05/1998, Tướng Nguyễn Khánh Toàn, Thứ Trưởng Bộ Công An và là Tổng Cục Trưởng Tổng Cục An Ninh, đã tổ chức phiên họp Liên Ngành và quyết định truy tố ông Bình. Cuối năm 1996, ông Bình bị tổ công an PA24 bắt giam và bị truy tố về ba tội : Vi phạm quy định quản lỶ và bảo vệ đất đai, đưa hối lộ và trốn thuế. Gia đình ông Bình đã nhờ chính phủ Hòa Lan can thiệp, nhưng ông đã bị giam giữ 18 tháng. Đến ngày 25/06/1998 ông Bình mới được trả tự do, nhưng bị quản thúc tại gia.

Theo bài ỀTrịnh Vĩnh Bình kiện nhà nước Việt NamỂ của ông Trọng Kim, chủ bút báo Ngày Nay ở Houston, được đăng trên Đàn Chim Việt online ngày 22/11/2006 thì ngày 13/05/1998, sau khi xem hồ sơ vụ án Trịnh Vĩnh Bình, Thủ Tướng Phan Văn Khải đã có bút phê gửi tới Bộ Trưởng Bộ Công An Lê Minh Hương như sau :

ỀAnh (ông Hương) chỉ đạo Công An Bà Rịa Vũng Tàu xem lại trường hợp anh Trịnh Vĩnh Bình. Thủ tướng Hòa Lan đã đặt vấn đề, tôi đã hỏi trực tiếp một số đồng chí lãnh đạo tỉnh Bà Rịa Ố Vũng Tàu anh Bình không có lỗi đến mức phải xử, do anh dựa vào người trong nước bị họ lừa gạt, làm bậyỂ.

Tướng Lê Minh Hương đã chuyển Ỷ Thủ Tướng Khải qua Thứ Trưởng Nguyễn Khánh Toàn đề nghị giải quyết theo Ỷ ông Khải ... Nhưng ngày 20/05/1998. Tướng Nguyễn Khánh Toàn lại tổ chức phiên họp Liên Ngành và quyết định đưa vụ án này ra tòa để xét xử. Ngày 23/06/1998, ông Trần Đình Hoan, Chánh Văn Phòng Bộ Chính Trị, cũng đã đưa ra văn bản số 822, chỉ đạo đưa vụ án ra xét xử theo như chiều hướng của Bộ Công An.

Ngày 11/12/1998, Tòa Án Nhân Dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã xét xử vụ án này, xác định ông Bình có vi phạm các quy định quản lỶ và bảo vệ đất đai, đưa hối lộ và trốn thuế, và tuyên phạt Trịnh Vĩnh Bình 13 năm tù giam. Trịnh Vĩnh Bình kháng cáo nên vẫn được tại ngoại cho đến khi có bản án nhất định.

Đầu năm 2000, khi Tòa phúc thẩm ở Sài Gòn bắt đầu xử lại vụ này, ông Trịnh Vĩnh Bình chạy vào Bệnh Viện Chợ Rẫy xin cấp cứu vì lỶ do bị lên cơn cao huyết áp. Sau khi bác sĩ xác nhận sức khỏe của ông Bình bình thường, ông Bình phải ra trước tòa. Sau khi tranh luận, Tòa vẫn xác định ông Bình có phạm ba tội nói trên, nhưng sửa hình phạt lại, tuyên phạt ông Bình 11 năm tù giamvà tuyên bố tịch thu những tài sản phạm pháp tổng cộng 6,1 tỉ đồng và 480 lượng vàng.

Lê Văn Dỹ, Bí Thư Tỉnh Ủy, và Châu Văn Mẫn, Giám Đốc Công An Tỉnh Bà Rịa Ố Vũng Tàu, chỉ bị khiển trách. Nguyễn Trọng Minh, Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân tỉnh phải làm bản tường trình với Thường Vụ Bộ Chính Trị về số tiến Trịnh Vĩnh Bình đã ỀbiếuỂ. Công ty sản xuất và xuất cảng nông hải sản của Trịnh Vĩnh Bình ở Vũng Tàu nay trở thành Xí Nghiệp 30/04.

Trong cuộc phỏng vấn của đài BBC hôm 20/08/2005, ông Trịnh Vĩnh Bình cho biết : ''Sau một thời gian tôi được tại ngoại, tôi cảm thấy là có nguy cơ tôi sẽ bị bắt lại và đưa vào tù và có thể là tôi sẽ bị chết. Do đó với hoàn cảnh đó, tôi phải đào thoát khỏi Việt Nam. '' Nhiều người tin rằng vì áp lực của chính phủ Hòa Lan, Công An Việt Nam đã bố trí để cho ông Bình rời khỏi Việt Nam.

SỰ CAN THIỆP CỦA HồA LAN

Trong bài ỀDiễn Biến của vụ án Trịnh Vĩnh Bình kiện Việt NamỂ được đăng trên báo Ngày Nay ở Houston số ra ngày 01/07/2005, ông Tùng Nguyên có trình bày quan điểm của nhà cầm quyền Việt Nam và chính phủ Hòa Lan về vụ án này. Ông Tùng Nguyên được giới thiệu như là một chuyên viên tư vấn, sống tại Paris, trong thời gian làm việc tại Hoà Lan đã có dịp Ềtiếp cậnỂ với vụ án này. Chúng tôi xin tóm lược dưới đây những nét chính :

Theo ông Tùng Nguyên, chính phủ Hoà Lan cho rằng vụ này đã xâm phạm nghiêm trọng Hiệp Định Đầu Tư Song Phương (Bilateral Investment Treaty) giữa Hòa lan Ố Việt Nam, còn nhà cầm quyền Việt Nam luôn luôn coi đó như là một vụ án cá nhân thuộc lãnh vực nội bộ của Việt Nam, nên đã đưa tới sự căng thẳng giữa hai nước.

Trước tiên, ông Voorhoeve, một trong 18 thành viên của Hội Đồng Chính Phủ Hòa Lan, đã yêu cầu Thủ Tướng Wim Kok và Bộ Trưởng Ngoại Giao Hoà Lan Van Aartsen trực tiếp gởi hồ sơ khiếu nại của ông Bình đến Chủ Tịch Nước Việt Nam Trần Đức Lương yêu cầu giải quyết vụ án này, đồng thời triệu tập Đại Sứ VN tại Hòa Lan là ông Đinh Hoàng Thắng đến Bộ Ngoại Giao Hòa Lan để phản đối.

Nhân dịp phái đoàn Quốc Hội VN do ông Chủ Tịch Nguyễn Văn An dẫn đầu đến thăm Hòa Lan, Dân biểu Hessing thuộc Uỷ Ban Đối Ngoại của Hòa Lan đã cảnh cáo : ỀPhía Việt Nam cần tôn trọng những điều đã cam kết trong Hiệp định Đầu tư giữa hai nước, vụ án ông Bình là một sự vi phạm hiệp định và là rào cản trong bang giao giữa hai nướcỂ. Phía Việt Nam cho rằng nhà cầm quyền địa phương đã gây ra sai trái và hứa sẽ giải quyết.

Một tháng sau, trong chuyến viếng thăm Việt Nam đáp lễ của phái đoàn Quốc Hội Hoà Lan, do bà Chủ tịch Nieuwenhoven làm trưởng đoàn, vụ án Trịnh Vĩnh Bình cũng đã được nêu ra. Phái đoàn nói rằng chính phủ Hòa Lan không muốn đi sâu vào khía cạnh pháp lỶ, vì dư luận tại Việt Nam cũng không thống nhất về vấn đề này. Phái đoàn cũng không muốn can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Phái đoàn chỉ muốn Việt Nam chứng tỏ rằng thực sự Việt Nam muốn trở thành đối tác tin đáng cậy của Hoà Lan, và sự tin cậy bao giờ cũng là con đường hai chiều. Ngoại Trưởng Nguyễn Dy Niên hứa sẽ yêu cầu cơ quan chức năng điều tra lại.

Trong dịp Phái đoàn Việt Nam đến thăm Quốc Hội Âu Châu, Dân biểu Jules Maaten thuộc Ủy Ban Đối Ngoại đã bày tỏ những bất mãn về vụ Trịnh Vĩnh Bình. Một tuần sau Quốc Hội Âu Châu đã thông qua Nghị Quyết lên án Việt Nam vi phạm nhân quyền với những biện pháp chế tài kèm theo. Tác giả của bản văn này chính là ông Maarten. Trong bản nghị quyết cũng nhắc đến vụ án Trịnh Vĩnh Bình như một trường hợp điển hình.

Trước phản ứng khó hiểu và không tôn trọng các nguyên tắc ngoại giao của Việt Nam, một số đân biểu Hoà Lan đã yêu cầu bà Margareeth de Boer, Chủ Tịch Uủy Ban Ngoại Giao Hạ Viện Hoà Lan, dẫn đầu một phái đoàn khác đến Việt Nam và trực tiếp gặp Bộ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Dy Niên. Trong dịp này bà nhấn mạnh : ỀVì quyền lợi cuả hai nước, vụ án cần được giải quyết tức khắc, sự chậm trễ có thể dẫn đến việc chấm dứt viện trợ Phát tiển từ phía Hòa LanỂ. Kết quả phía Hoà Lan nhận được một công hàm của Bộ Ngoại Giao Việt Nam thông báo về vụ án Trịnh Vĩnh Bình với nội dung là đã Ềbắt đúng người, xử đúng tội, áp dụng đúng luật phápỂ. Theo ông Tùng Nguyên, đây là phản ứng duy nhất mà Hoà Lan nhận được từ phía Việt Nam.

ĐƯA RA TRỌNG TầI QUỐC TẾ

Kể từ ngày 15/10/2003, vụ án Trịnh Vĩnh Bình bước sang giai đoạn mới, vượt ra khỏi lãnh vực của hai nước Hòa Lan và Việt Nam, khi ông Trịnh Vĩnh Bình chính thức nhờ Tập Đoàn Luật Sư Covington Burling đứng ra kiện nhà cầm quyền Việt Nam trước Trung Tâm Trọng Tài Quốc Tế.

Trước khi nộp đơn kiện, theo thủ tục thông thường, Tập đoàn Luật sư Covington Burling đã gởi cho nhà cầm quyền Việt Nam một văn thư yêu cầu trả lại toàn bộ tài sản cho ông Bình, nếu không sẽ bị kiện, trong thư có đoạn như sau :

ỀThật sự, sự vô tội của ông Trịnh Vĩnh Bình bây giờ có thể được chứng minh một cách dứt khoát. Ngày 24/06/2002, Trịnh Hiền Thanh đã thú nhận bằng văn bản với nhà chức trách Việt Nam là y đã vu khống tố cáo ông Trịnh Vĩnh Bình về những hành động khiến ông bị xét xử.

Căn cứ trên lời thú nhận đã bạch hóa mình như vậy, ông Trịnh Vĩnh Bình đã dấn mình vào trong một cuộc tranh đấu dài để rửa sạch tên tuổi của mình. Ông đã tiếp xúc với nhiều viên chức tư pháp và nhân vật đảng ở Việt Nam, đã kêu gọi sự can thiệp ngoại giao của chính phủ Hòa Lan và đã nhận được sự ủng hộ của các ủy viên thuộc Quốc Hội Âu Châu ..Ể.

Sau đó, qua Tòa Đại Sứ Việt Nam ở Washington và Hòa Lan, nhà cầm quyền Việt Nam đã liên lạc với ông Bình để thương lượng. Tuy nhiên, ông Bình cho biết các cuộc thương lượng đó không mang lại kết quả nào, vì đại diện phía Việt Nam chỉ yêu cầu suông ông đừng nên kiện, vì sợ bất lợi cho Việt Nam, nhưng không đưa ra giải pháp nào.

Đầu tháng 04/2005, dựa trên điều 9 của Hiệp Ước Đầu Tư Song Phương giữa Hòa Lan và Việt Nam liên hệ đến việc Ềphát huy và bảo vệ đầu tưỂ được kỶ kết vào năm 1994, Luật sư của ông Bình đã nộp đơn tại Trung Tâm Trọng Tài Quốc Tế về Giải Quyết Các Tranh Chấp Trong Lĩnh Vực Đầu Tư, trụ sở tại Stockholm, Thụy Điển, kiện nhà cầm quyền Việt Nam và đòi bồi thường thiệt hại 100 triệu USD. Để khởi tố vụ này, ông Bình phải đóng tiền kỶ quỹ 150.000 USD.

Trung tâm này sẽ giải quyếg dựa theo những quy tắc về trọng tài của Ủy Ban Liên Hiệp Quốc về Luật Mậu Dịch Quốc Tế (UNCITRAL).

Phán quyết của Ủy Ban Trọng Tài sẽ được thi hành theo các quy định của Công Ứớc New York năm 1958 về công nhận và thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài. Bên muốn thi hành phán quyết có quyền tiến hành thủ tục yêu cầu thi hành không chỉ ở nước của đối phương mà còn ở tại tất cả các nước đã tham gia công ước nói trên. Hiện nay, hơn 130 nước đã tham gia công ước này, trong đó có Việt Nam.

Một luật sư của Tổ hợp Covington Burling cho biết : ỀÔng Bình không đích danh khởi kiện nhà cầm quyền Việt Nam nhưng trong trường hợp này, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu là bị đơn và khi đã đưa ra Tòa án quốc tế thì nhà cầm quyền Việt Nam là đại diệnỂ.

Riêng Trịnh Vĩnh Bình tuyên bố : ỀVụ kiện sẽ là điều bất lợi cho Việt Nam khi kêu gọi đầu tư nước ngoài, đặc biệt là kêu gọi người Việt hải ngoại. Vụ kiện sẽ cho người ta một chứng cứ là chuyện đầu tư ở Việt Nam hết sức rủi ro ..Ể..

Qua lời tuyên bố này, báo CAND có nhận xét rằng ngoài việc đòi bồi thường thiệt hại, ông Bình Ềcòn cố tình dựng lên một bức tranh đen tối về môi trường kinh doanh tại Việt Nam, nhằm gây hoang mang cho những người đã, đang và sẽ đầu tư vào Việt NamỂ.

PHẢN ỨNG CỦA VIỆT NAM

Để đối phó đơn kiện của ông Bình, nhà cầm quyền Việt Nam cũng đã nhờ Tổ hợp Luật sư Glide Loyrette Rouel ỏ Pháp đại diện chống lại và đã đóng tiền kỶ quỹ 150.000 USD như luật định.

Báo Công An Nhân Dân số ngày 6.6.2005, dưới đầu đề Vi phạm pháp luật Việt Nam lại cố tình la lốiỂ, đã trích đăng lời của Luật sư Phan Văn Thành, làm việc trong Công ty luật Nam Cali, như sau : ỀTôi không tin rằng chuyện đầu tư ở Việt Nam hết sức rủi ro như lời ông Trịnh Vĩnh Bình. Nếu rủi ro thì các công ty Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Mỹ, Pháp, Đức... đã không ào ạt đổ tiền đổ của vào đây. Ngay tại Nam Cali, theo tôi biết đã có ít nhất 200 doanh nhân người Việt về Việt Nam làm ăn, có người đem về hàng triệu đôla, kể cả giới luật sư chúng tôi, cũng đã có người về mở văn phòng đại diệnỂ.

Phiên tòa xử vụ này đáng lẽ sẽ khởi sự hôm mồng 04/12 và dự trù kết thúc vào ngày 12/12/2006, nhưng hai bên xin dàn xếp kín nên phiên tòa phải tạm đình lại.

Một tin từ Sài Gòn gởi qua Email cho biết hôm 02/03/2997, có người đã thấy Trịnh Vịnh Bình đang đến họp ở Dinh Độc Lập, Sài Gòn. Như vậy, nhà cầm quyền Việt Nam đang cố gắng thương lượng với Trịnh Vĩnh Bình để hủy bỏ vụ kiện này.

MỘT VầI NHẬN XÉT

Chắc chắn là các tài liệu liên quan đến vụ này mà chúng tôi đã nhận được chưa đầy đủ và hoàn toàn chính xác, nhưng với một số dữ kiện đã thu lượm được, chúng tôi có thể đưa ra một số kết luận tạm như sau :

1.- Về phương diện pháp lỶ : Chính phủ Hòa Lan đã tránh né trong việc đề cập đến phương điện pháp lỶ của vụ án Trịnh Vĩnh Bình, viện lỶ do có nhiều khía cạnh phức tạp. Chúng tôi cũng chưa tìm được bản án của tòa phúc thẩm ở Sài Gòn xử chung quyết vụ này. Nhưng dựa vào những tội phạm đã được xác định, chúng tôi xin có vài nhận xét. Ông Bình bị tuyên phạt về ba tội : vi phạm các quy định quản lỶ và bảo vệ đất đai, đưa hối lộ và trốn thuế.

Tội vi phạm các quy định quản lỶ và bảo vệ đất đai : Đây là một tội khá phức tạp. Luật Đất Đai của Việt Nam rất rắc rối và mập mờ. Trước hết, Việt Nam có Luật Đất Đai ngày 29/12/1987, đến Luật Đất Đai ngày14/07/1993 rồi Luật Đất Đai ngày 26/11/2003. Vì vụ án xẩy ra trong thời gian từ 1992 đến 1996, nên phải áp dụng Luật Đất Đai 1993. Điều 85 của luật này quy định :

ỀNgười nào lấn chiếm đất, hủy hoại đất, chuyển quyền sử dụng đất trái phép hoặc có hành vi khác vi phạm pháp luật đất đai, thì tuỳ theo mức độ nhẹ hoặc nặng mà bị xử lỶ bằng biện pháp hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sựỂ.

Luật mà viết mơ hồ như vậy làm sao áp dụng ? ỀHoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sựỂ là như thế nào ? Truy cứu theo tội danh nào và do luật nào ấn định ? Về phương diện hình sự, Ềkhông có tội phạm nếu không có luật quy địnhỂ (Nulla pena sine lege) và hình luật phải được giải thích chặt chẽ, không thể loại suy để truy tố và phạt được. Chúng tôi chưa biết tòa đã áp dụng điều luật nào khi truy tố và tuyên phạt ông Trịnh Vĩnh Bình vì có hành vi vi phạm pháp luật đất đai.

Tội trốn thuế và tội đưa hối lộ có được quy định trong các điều 169 và 227 Bộ Luật Hình Sự 1991 (Bộ Luật Hình Sự 1999 chưa áp dụng).

Theo điều 169, người nào trốn thuế với số lượng lớn hoặc đã bị xử lỶ hành chánh mà còn vi phạm thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm, hoặc bị phạt tù từ 3 tháng đến 3 năm. Phạm tôi trốn thuế với một số lượng lớn có thể bị phạt tử 2 năm đến 7 năm.

Theo điều 227, người nào đưa hố lộ hoặc làm môi giới hối lộ thì bị phạt từ tử 6 tháng đến 1 năm. Trong trường hợp nghiêm trọng có thể bị phạt từ 3 năm đến 15 năm.

Vấn đề được đặt ra là bằng chứng của tội phạm có đáng tin cậy hay không. Trước khi đưa nội vụ ra trước Trọng Tài Quốc Tế, Tập đoàn Luật sư Covington Burling đã gởi cho nhà cầm quyền Việt Nam một văn thư nói rằng ỀNgày 24/06/2002, Trịnh Hiền Thanh đã thú nhận bằng văn bản với nhà chức trách Việt Nam là y đã vu khống tố cáo ông Trịnh Vĩnh Bình về những hành động khiến ông bị xét xửỂ. Đã đành luật sư bao giờ cũng phải lỶ luận có lợi cho thân chủ, còn đúng hay sai tùy tòa phán định, nhưng trong vụ này, Tập đoàn Luật sư Covington Burling đang đặt lại vấn đề giá trị bằng chứng của tội phạm và có lẽ vấn đề này sẽ được nêu ra khi tranh luận trước cơ quan trọng tài quốc tế xét xử nội vụ.

2.- Vấn đề đầu tư tại Việt Nam : Như chúng tôi đã nói ở trên, báo Công An Nhân Dân số ngày 06/06/2005 có trích dẫn lời của Luật sư Phan Văn Thành, làm việc trong Công ty luật Nam Cali, nói ông Ềkhông tin rằng chuyện đầu tư ở Việt Nam hết sức rủi ro như lời ông Trịnh Vĩnh BìnhỂ. Theo ông, Ềnếu rủi ro thì các công ty Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Mỹ, Pháp, Đức ... đã không ào ạt đổ tiền đổ của vào đâyỂ. Nhưng nói như vậy là không nắm vững về tình hình ở Việt Nam.

Khi các công ty ngoại quốc đến làm ăn tại Việt Nam, họ được cả nhà cầm quyền nước họ lẫn nhà cầm quyền trung ương của Việt Nam bảo vệ, nên các viên chức ác ôn ở địa phương không dám động đến họ vì sợ mất chức hay bị kiện ra trước các cơ quan tài phán quốc tế rất phiền phức.

Người Tàu ở Đài Loan và Hồng Kông còn ngon hơn, họ qua mặt cả nhà cầm quyền trung ương lẫn địa phương và chẳng coi luật pháp quốc gia ra gì. Tôi đã từng thấy người Tàu biến cả hệ thống công an, quan thuế, an ninh phi trường ... thành công cụ làm ăn của họ. Giám Đốc Công An Quận hay Huyện mà được họ sai là kể như Ềthần tàiỂ tới nhà ... Có rất nhiều người Tàu làm ăn về nhà đất như Trịnh Vĩnh Bình, nhưng lớn hơn vụ Trịnh Vĩnh Bình gấp 10 hay 20 lần mà có sao đâu ? Trịnh Vĩnh Bình không có đủ khả năng bao hết các phe và không nắm vững phe nào mạnh phe nào yếu nên mới bị phe không có ăn thanh toán. Vấn đề chỉ có thế thôi.

Còn người Việt hải ngoại trở về làm ăn ở Việt Nam rất khổ vì vốn ít và thiếu kinh nghiệm. Họ bị nhà cầm quyền địa phương dụ dỗ bằng cách giúp đỡ cho làm ăn, kể cả cung cấp Ềmặt bằngỂ. Nhưng khi công việc làm ăn bắt đầu khá, các viên chức địa phương thường tìm cách gây khó dễ để tước đoạt, như kiểm tra liên tục về thuế, về sản phẩm, về hàng xuất nhập, tăng giá thuê mặt bằng, cho du đảng quậy phá, v.v. Đến giai đoạn này thì chỉ còn một cách là Ềbỏ của chạy lấy ngườiỂ ! Chúng tôi biết có người không chịu chạy, khi ra đường đã bị xe gắn máy húc hay bị cướp đâm. Một người quen về xin lại ngôi biệt thự cũ, chỉ vài tuần sau, gia đình được gọi về nhận xác, vì ăn... trúng độc ! Giáo sư Trần Đại Sĩ cho biết ông có 204 hồ sơ về loại này. Chúng tôi cũng có mộ số.

Kiện ra tòa án ư ? Tòa Việt Nam không xử theo luật mà xử theo lệnh hay cảm tính. Thẩm phán Việt Nam phải ỀHồngỂ hơn ỀChuyênỂ nên biết rất ít về luật. Học lực có khi chưa tới lớp 10 hay lớp 12 nên phải xử dụng chứng chỉ giả. Cứ đọc vài bản án của Tòa Án Nhân Dân Tối Cao ở Hà Nội thì sẽ biết trình độ pháp lỶ của họ như thế nào.

Luật sư Thành cũng thừa biết, theo luật ở Mỹ, chúng ta có tố quyền để kiện những vụ vi phạm quyền con người xẩy ra ở Việt Nam như bị bắt giam trái phép hay bị tra tấn, để đòi bồi thường thiệt hại, nhưng không ai xử dụng vì thủ tục rất phức tạp và quá tốn kém. Kiện các vi phạm Hiệp Ước Đầu Tư Song Phương (Bilateral Investment Treaty) trước các cơ quan tài phán quốc tế cũng không dễ dàng. Nhờ sự giúp đỡ tận tình của chính phủ Hòa Lan, ông Trịnh Vĩnh Bình mới có thể làm được chuyện đó. Khó mà thuyết phục được chính phủ Hoa Kỳ làm như chính phủ Hòa Lan.

Một điều cần nhấn mạnh là Ềnão trạng cải tạo xã hội chủ nghĩaỂ nơi các cán bộ và đảng bộ địa phương vẫn còn nguyên vẹn, mặc dầu thình hình đã thay đổi. Như chúng tôi đã nói ở trên, thuật ngữ Ềcải tạo xã hội chủ nghĩaỂ được dùng để chỉ các thủ đoạn, các phương pháp và tiến trình được dùng để biến dần tài sản của dân chúng thành Ềtài sản xã hội chủ nghĩaỂ và ngày nay là thành tài sản của các viên chức địa phương. Bao lâu não trạng đó còn, người Việt hải ngoại không thể về làm ăn được. Đây là vấn đề chúng tôi sẽ đề cập tiếp trong bài nói về vụ án Trường Quốc Tế.

Tú Gàn

Về làm ăn tại VN phải trả một cái giá khá đắt
James Hookway? Wall Street Journal, 14/08/2007

Khánh Đăng lược dịch

 

Ề Ẩ nỗi tức tưởi của ông Nguyễn là một điển hình của những mối hiểm nguy lớn dành cho các nhà đầu tư ngoại quốc đang đổ dồn vào Việt NamẨỂ

Khi doanh nhân người Mỹ tên Hoan Nguyễn đến Việt Nam cách đây một thập niên với những dự án để xây dựng một ngôi trường quốc tế, thì ông ta nói rằng ông ta rất phấn khởi với niềm hy vọng cho nơi chôn nhau cắt rốn của ông 

Nhưng hồi năm ngoái ông đã phải nằm trên một cái chõng ẩm ướt trong nhà tù B14 tại Hà Nội sau một vụ tranh chấp trong việc làm ăn với các đối tác của nhà nước Việt Nam, và vụ đó trở thành một cuộc điều tra của công an với ông Nguyễn là nghi can chính.

Những nỗi tức tưởi của ông Nguyễn là một điển hình của những mối hiểm nguy lớn dành cho các nhà đầu tư ngoại quốc đang đổ dồn vào Việt Nam, nơi mà nền kinh tế tăng trưởng ở mức hơn 8 phần trăm một năm và được các nơi đánh giá là một thị trường mới xuất hiện, nóng bỏng nhất trong thế giới thứ ba, chỉ sau Trung Quốc và Ấn Ưộ. Niềm đau của ông Nguyễn cũng cho thấy các cơ quan hoặc cán bộ viên chức của nhà nước Việt Nam đôi khi họ có thể dùng những mánh lới cứng rắn để đạt được điều họ muốn khi chuyện làm ăn bị đổ bể.

Nằm tù 14 tháng trong khi chờ công an điều tra sự việc, ông Nguyễn phải nghe đài của nhà nước Việt Nam oang oang mỗi buổi sáng trong sân nhà tù với các xướng ngôn viên thúc giục người Việt hải ngoại trở về để bồi đắp vào nền kinh tế đang tăng trưởng nhanh chóng của đất nước. 

Ông bảo rằng ỀThật là ngẫu nhiên. Tôi làm chính xác như điều nhà nước Viêt Nam muốn và cuối cùng thì vào tù.Ể Ông Nguyễn năm nay 58 tuổi, được thả ra hồi tháng 06 và bây giờ đang ở Hà Nội để chờ phán quyết cuối cùng về trường hợp của ông ta.

Ông Nguyễn nói rằng, trong thời gian nằm trong nhà tù, ông chỉ được gặp luật sư có 2 lần trong thời gian đó và tố cáo rằng ông ta đã bị một nhân viên công an đánh đập. Ưồ ăn trong tù thì được rất ít. Ông Nguyễn cho biết, trong dịp Tết, ông chỉ được cho ăn có một miếng thịt gà nhỏ xíu và một khẩu phần cơm mỗi ngày như thường lệ. Các viên chức công an thì không muốn nói gì về việc giam giữ ông Nguyễn.


Rồi thì sau khi ông Nguyễn đã ngồi tù được 14 tháng mà không bị buộc vào tội danh nào, gia đình của ông ta phải trả 85 ngàn Mỹ kim mà nhà nước Việt Nam bảo là tiền thế chân, công an Việt Nam kết luận trong bản báo cáo sơ khởi là không có bằng chứng rõ rệt nào để đưa ông Nguyễn ra tòa và thả ông ra. Tiền thế chân chưa được hoàn trả. Và ông Nguyễn vẫn đang chờ đợi xem các công tố viên Việt Nam có quyết định chính thức để buộc ông vào bất cứ tội danh nào hay không. 

Sau hàng thập niên dưới sự cai trị của Cộng sản, hệ thống luật pháp của Việt Nam vẫn còn quá yếu kém để có thể áp dụng vào việc giải quyết các vụ tranh chấp làm ăn tư nhân, mà thường ở các quốc gia với nền kinh tế thị trường đã được ổn định thì các vụ tranh chấp này được giải quyết bởi các cơ quan độc lập. 

Vậy thì khi không có sự bảo chứng từ các toà án dân sự, những người khiếu kiện có thể mang những khiếu nại của họ đến thẳng cho công an, và công an có thể giam giữ các nghi can đến hàng tháng trời mà không cần phải đưa ra một cáo trạng nào đối với các nghi can này. Trong những trường hợp điển hình khác, nhà nước Việt Nam đã dùng quyền hành của họ để tước đoạt các cơ sở kinh doanh tư nhân, không cho các chủ nhân một chút hy vọng nào để tìm lại công lỶ nơi các toà án.

Ông Tony Foster là đồng giám đốc của một cơ sở tại Việt Nam thuộc công ty luật Anh quốc Freshfields Bruckhaus Deringer, nói rằng một trong những điều hợm hĩnh của nền luật phápViệt Nam - một cái đống lôi thôi lộn xộn giữa luật lệ nội địa và luật lệ du nhập từ nước ngoài Ố là trong đó có cả một số các quy định rất chung chung về các tội hình sự, mà các quy định này có thể dùng để áp dụng cho một cơ sở kinh doanh.

Một trong những tội này là Ềquản lỶ kinh tế sai lạcỂ làm thất thoát tài sản nhà nước. Ông Foster cho biết rằng một cơ sở kinh doanh ngoại quốc có hợp đồng làm ăn chung với một cơ quan nhà nước có thể bị kết tội hình sự nếu họ vướng mắc vào một vấn đề quản trị đơn thuần, đưa đến trường hợp bị kết vào tội chính trị.

Chủ tịch Việt Nam Nguyễn Minh Triết đã nhận thức trong một cuộc phỏng vấn rằng đất nước của ông ta cần phải cải tổ hệ thống luật pháp cho thích hợp với tiêu chuẩn quốc tế. Nhưng theo những người gần gũi với quyết tâm cải tổ hệ thống luật pháp của Việt Nam thì việc này sẽ phải mất một thời gian đáng kể. Sự thúc đẩy việc cải tổ đã được thực hiện trong nhiều năm qua, ngoài những vấn đề khác thì còn lại là chú tâm vào việc tạo một sân chơi công bằng cho giới kinh doanh trong lẫn ngoài nước.

Cùng lúc đó, thì các vụ tranh chấp kinh doanh và vi phạm luật lệ bị vốn coi như là các tội hình sự thì tiếp tục chồng chất.

Hồi năm ngoái, 4 nhà kinh doanh người địa phương của chi nhánh Việt Nam thuộc ngân hàng ABN Amro Holding NV của Hoà Lan đã bị bắt giữ sau khi công an Việt Nam buộc tội họ là đã thực hiện một số vụ mua bán ngoại tệ với một nhân viên không có thẩm quyền của ngân hàng nhà nước, làm nhà nướcViệt Nam bị thất thoát 5 triệu đô la. ABN Amro phải trả cho nhà nước Việt Nam 4,5 triệu đô la hồi tháng 11 để cho nhân viên của họ được thả, bây giờ thì 4 nhà kinh doanh dịch vụ ngân hàng này được tự do hành nghề và đi lại trong nước. Nhưng cuộc điều tra về các hành vi của nhân viên ngân hàng ABN Amro này vẫn chưa được huỷ bỏ. Trước đó, một nữ phát ngôn viên cuả ABN Amro đã bác bỏ bất cứ hành vi sai trái nào của nhân viên họ tại Việt Nam.

Các ngân hàng ngoại quốc khác đã viết thư cho nhà nước Việt Nam để phản đối các hành động của công an, than phiền rằng dưới luật pháp của Việt Nam thì việc buộc tội hình sự cho các tranh chấp dân sự quá ư là dễ dàng.

Một cuộc tra cứu của nhà nước vào năm nay đã kết luận rằng các ngân hàng Việt Nam không tiến hành đúng đắn quy trình mua bán ngoại tệ.

Những người Việt hải ngoại trở về tham gia vào hành trình của Việt Nam để tiến ra khỏi nền kinh tế tập trung, đã kém thành công hơn hầu hết các nhà đầu tư ngoaị quốc khác. Nhiều người, trong đó có ông Nguyễn, than phiền rằng tư cách pháp luật của họ bị yếu thế vì nhà nước Việt Nam ngần ngại không coi họ như những người nước ngoài, mặc dù họ là những công dân hợp pháp của các quốc gia khác. Thí dụ như một trong những lỶ do mà công an giam giữ ông Nguyễn trong tù hơn một năm, theo những người đang theo dõi sâu sát vụ này cho biết, là để điều tra xem ông Nguyễn có nhận một cách bất hợp pháp bảo hiểm y tế dành riêng cho các nhân viên người nước ngoài làm việc cho Trường quốc tế Hà Nội mà ông ta đã giúp để tạo dựng hay không Ố mà không quan tâm đến việc ông Nguyễn là một công dân mang quốc tịch Hoa Kỳ.

Ưể cho ăn chắc, một số người Việt hải ngoại đã có vẻ coi thường luật pháp của Việt Nam trong quyết tâm làm giàu, gây hại đến uy tín của những người Việt hải ngoại khác Ốcòn được gọi là Việt kiều Ố là những người trở về để làm ăn trong những doanh nghiệp đàng hoàng. Trong một vụ khá nổi tiếng, doanh nhân người Pháp Nguyễn Gia Thiều tạo dựng một cơ sở làm ăn với người em để buôn bán điện thoại di động hiệu Nokia và Samsung. Vào năm 2003, công an đã bắt giữ ông Thiều vì bị cáo buộc là đã buôn lậu điện thoại di động vào Việt Nam để tránh không phải đóng thuế nhập cảng. Sau đó ông ta đã bị kết tội và tuyên án 20 năm tù. 

Trong khi đó thì ông Nguyễn vẫn đang cố gắng để minh oan cho mình.

Là một người đàn ông với một mái tóc bạc dầy và các bằng cấp từ hai trường đại học Vanderbilt và George Mason ở Hoa Kỳ, Nguyễn Ưình Hoan rời Việt Nam từ thập niên 1960s và không trở về quê hương trong hàng chục năm vì chiến tranh và tình hình chính trị rối rắm Giống như nhiều người Việt hải ngoại khác, ông ta đã thay đổi tên từ sau ra trước theo như cách của người Tây phương, và trở thành Hoan Nguyễn.

Cuối cùng thì vào năm 1995, ông ta đã trở về với các kế hoạch để thiết lập một ngôi trường quốc tế để phục vụ cho gia đình của những người ngoại quốc lúc bấy giờ đang bắt đầu ồ ạt đến Việt Nam. Ông Nguyễn lập ra Trường quốc tế Hà Nội với sự hợp tác của Trung tâm Giáo dục nhà nước Việt Nam vào năm 1996. Nhà nước cung cấp một hợp đồng 20 phần trăm thuê mướn trên một mảnh đất mà bây giờ rất có giá gần trung tâm Hà Nội, để lấy về 30 phần trăm lợi tức trong nghiệp vụ này.

Khi mà trị giá của miếng đất mà ngôi trường được xây trên miếng đất đó gia tăng, thì căng thẳng giữa ông Nguyễn và các đối tác của ông ta cũng tăng theo. Theo báo cáo của công an điều tra thì vào tháng 04/2006, công an đã bắt giữ ông để điều tra việc đối tác nhà nước tố cáo rằng ông đã nhận bảo hiểm y tế một cách bất hợp pháp, và việc ông bị cáo buộc là đã thuê mướn lậu một người trợ tá riêng để giúp ông trong một doanh nghiệp giảng dạy Anh ngữ riêng biệt.

Thân nhân của gia đình ông bà Nguyễn cho biết là, trong khi ông Nguyễn đang nằm tù, thì Toà Ưại sứ Hoa Kỳ tại Hà Nội đã khuyến cáo vợ ông Nguyễn là không nên đi về Việt Nam để cố tìm cách lấy lại tự do cho chồng bà, bởi vì họ không thể nào bảo đảm cho sự an toàn của bà tại đây.

Hồ Ngọc Ưại [*], cựu giám đốc Trung tâm Giáo dục của nhà nước Việt Nam, là đối tác của ngôi trường quốc tế này, và là con rể của một cựu Tổng bí thư đảng, đã gọi ông Nguyễn là Ềmột tên ăn cắpỂnhưng từ chối không chịu giải thích lỶ do tại sao hắn ta chắc chắn ông Nguyễn là một tội phạm, và không muốn nói nhiều thêm về vấn đề này.

Ông Nguyễn vẫn nhất mực nói rằng ông ta không hề làm điều gì sai cả, và tiền lương trả cho người trợ tá riêng của ông được chia đôi giữa nhà trường và cá nhân ông ta 

Vào tháng 06, sau khi ông Nguyễn được thả ra, thì trường hợp của ông được đưa lên bàn làm việc của thủ tướng Việt Nam là Nguyễn Tấn Dũng, nguyên là một cựu thống đốc ngân hàng trung ương với một uy tín về tính thẳng thắn. Theo báo Công an Nhân dân thì Nguyễn Tấn Dũng đã chỉ đạo cho các thành viên người Việt trong ban giám đốc nhà trường phải giải quyết ngay những tranh chấp giữa nhà trường với ông Nguyễn, nếu không xong thì nhà nước sẽ ra tay với những quyết định riêng.

James Hookway
Nguồn: Wall Street Journal, ngày 14/08/2007

Khánh Ưăng lược dịch

[*] Hồ Ngọc Đạicon rể ông Lê Duẩn, là kẻ đã moi tiền bạc triệu từ ngân sách nhà nước qua các dự án cải cách giáo dục của cái gọi là Trung Tâm Công Nghệ Giáo Dục. Không biết ai là "một tên ăn cắp" đây?(BBT)

 

Trí Và Dũng Nơi Cố Tổng Thống NGÔ ĐỉNH DIỆM

NguyễnVăn Lượng/TiếngThịPhi;

Cách đây hai năm, cũng trong một buổi lễ tưởng niệm như hôm nay, tôi đã có hân hạnh trình bày về Thái Độ Kẻ Cả của cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Hôm nay tôi xin mạn phép đề cập đến cái Trí và cái Dũng nơi con người đã một thời lãnh đạo Việt Nam, đưa một nước vừa mới thoát khỏi ách nô lệ, lạc hậu về kinh tế, hỗn loạn về chính trị, lên địa vị một quốc gia độc lập thật sự, có kỷ cương về mọi mặt, đứng vào hàng đầu ở Đông Nam Á

Vậy Trí là gì? Và Dũng là gì?

Trí là óc thông minh, sự sáng suất để trong mọi hoàn cảnh lượng định được tình hình, phân định được hư thực, xác quyết được phải trái, cân nhắc được lợi hại để sau đó quyết định đường hướng phải đi, giải pháp phải theo, kế hoạch phải dùng đặng hoá giải mọi khó khăn ngõ hầu giải quyết toàn bộ vấn đề. Tài đi theo Trí . Cần phải phân biệt Trí với những tiểu xảo chính trị để lừa dối dư luận và tự đề cao uy tín, những thủ đoạn gian hùng để làm hại kẻ khác đặng phục vụ quyền lợi riêng tư của bản thân hoặc của bè phái.

Dũng là lòng can đảm, sự quyết chí. Người có Dũng không e ngại khó khăn, không nao núng trước các mối đe dọa, không lùi bước trước các sự hiểm nguy có thể đưa đến mạng vong. Dũng giúp ta đi đúng đường hướng, thi hành được kế hoạch, áp dụng được giải pháp mà Trí đã vạch ra ngõ hầu đạt dược kết quả mong muốn. Dũng đi với Luợc . Dũng không có nghĩa là liều lĩnh mà là sự can trường có suy tính. Kẻ liều lĩnh hành động mù quáng, có ít cơ hội thành công vì chỉ trông cậy vào may rủi. Lãnh đạo quốc gia mà thiếu Trí và Dũng thì chỉ làm hại quốc gia, vùi chôn quốc thể mà thôi. Trí và Dũng là hai đức tính bổ túc cho nhau, được thấy nơi bất cứ một lãnh tụ chân chính nào. Và cố Tổng Thống Ngô Dình Diệm đã có đầy đủ Trí và Dũ~j. Nhiễu sự kiện và biến cố trong đời Người đã chứng minh điều đó 

Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm là một chính khách có Trí vì Người:

  • đã thấy rõ lòng ngoan cố của thực dân Pháp nên đã treo ấn từ quan năm 1933 sau bốn tháng cầm đầu nội các đầu tiên của Bảo Đại;
  • đã thấy rõ dã tâm của người Nhật nên đã không đứng ra thành lập nội các năm 1945 theo lời triệu thỉnh của Bảo Đại;
  • đã thấy rõ thâm Ỷ của Hồ Chí Minh nên đã chối từ lời mời hợp tác với Việt Minh năm 1946 (l).

Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm là một kẻ sĩ có Trí vì Người:

  • đã lượng định đúng thời cơ để ra tham chính vào năm 1954 dù tình hình lúc bấy giờ không chút sáng sủa, nhân tâm rất đỗi xao xuyến;
  • đã trưng cầu dân Ỷ để truất phế Bảo Đại vì vị vua này dưới sự chi phối của chính quyền thực dân Pháp là một trở ngại lớn lao cho việc dựng lại đất nước và canh tân xứ sở;
  • đã cương quyết không cho Hoa Kỳ đưa quân vào tham chiến tại Việt Nam vì sự hiện diện của quân đội ngoại quốc sẽ làm tiêu tan chính nghĩa của Việt Nam Cộng Hòa ở quốc nội cũng như ở hải ngoại. Và những gì đã xảy ra cho Miền Nam sau khi Người nằm xuống đã hùng hồn nói lên sự sáng suất của Người.

Trí của Người ta đã thấy. Vậy còn Dũng thì ở đâu? Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm là một lãnh tụ có Dũng khi Người

  • nói thẳng với Hồ Chí Minh những cảm nghĩ của mình về chính sách chuyên chế của Cộng sản và hành động đẫm máu của cán bộ Cộng sản; (2)
  • khi Người chấp nhận dấn thân năm 1954 trong lúc Hội nghị Genève đang thảo luận việc chia đôi đất nước;
  • khi Người đương đầu với cuộc nổi loạn võ trang của các tướng tá làm tay sai cho thực dân Pháp, của đảng cướp Bình Xuyên và của các lãnh tụ đầy tham vọng cá nhân trong các giáo phái.

Chúng ta phải đi ngược dòng lịch sử, sống lại cái cảnh dầu sôi lửa bỏng của những ngày tháng trên mới Ỷ thức được một cách đứng đắn cái Dũng nơi Ngô chí sĩ.

  • Năm 1946, Ngô chí sĩ diện kiến họ Hồ tại Bắc Bộ Phủ là lúc Người đang ở trong vòng sinh sát của họ Hồ. Hồ Chí Minh đã không dám ám hại Người mặc dầu ông ta rất bực mình về những lời lẽ bộc trực của Người.
  • Năm 1954, để vớt vát quyền lợi, thực dân Pháp đã âm mưu với Cộng sản chia đôi lãnh thổ tại vị tuyến 17, ngang sông Bến Hải. Một triệu người đã ồ ạt di cư vào Nam tị nạn Cộng sản cần được định cư gấp rút mặc dầu Cộng sản vẫn tiếp tục khủng bố tại những vùng mà trước kia chúng chiếm đóng.
  • Năm 1955, bọn tướng tá bồi Tây đã vu khống, mạ lị Người ngày đêm trên đài Pháp Á. Đảng cướp Bình Xuyên thì hùng cứ vùng Chợ Lớn, công khai hiếp dân đoạt của, khai thác cờ bạc , đi điếm, ma túy. . . xem thường luật pháp quốc gia. Một số lãnh tụ các giáo phái, vì quyền lợi riêng tư của mình chứ không phải vì quyền lợi của đất nước, cũng nổi loạn tại miền Tây và miền Đông với sự tiếp tay của thực dân Pháp.Trong lúc đó thì Cơ quan An ninh, Việt Binh Đoàn, tuy thuộc quyền của Thủ Tướng, vẫn còn được điều khiển bởi tay chân của thực dân Pháp, quân đội viễn chinh Pháp vẫn còn chiếm đóng lãnh thổ, và người Pháp vẫn ngoan cố kéo dài việc điều đình trao trả chủ quyền.

Để đối phó với tình trạng hổn mang trong buồi giao thời, chí sĩ Ngô Đình Diệm đã thiếu hẳn cả phương tiện lẫn cán bộ, quân lực và nhất là quyền bính . vì Quốc Trưởng Bảo Đại bị thực dân Pháp khống chế đã không tận tình hổ trợ Người dù đã nài nỉ Người ra chấp chánh. Mặc dù tình thế thật bi đát và như vô vọng, Người vẫn vững tâm tiến bước và đã thành công đưa quốc gia qua cơn sóng gió.

Người đã có Trí và Dũng nên trong mọi biến cố Người đã tỏ ra rất bình tĩnh.

  • Trong vụ mưu sát ở Ban Mê Thuột ngày 22-2-1957 do Cộng sản chủ mưu, Người đã thản nhiên tiếp tục khai mạc hội chợ. Trên mặt Người không thoáng một chút hoảng hết (3).
  • Trong chính biến tháng 11 năm 1963, Người cùng bào đệ Ngô Đình Nhu quyết định ở lại, không xuất ngoại lưu vong theo lời gợi Ỷ của vì Đại sứ bất lương Henry Cabot Lodge.
  • Đêm cuối cùng của Người tại tư thất ông Mã Tuyên, Người đã có phong thái trầm lặng của một đấng quân tử, khiến cho Mã tiên-sinh mến phục Người mãi mãi dù cho sau này tiên-sinh đã phải tan gia bại sản và lâm vào vòng lao lỶ chỉ vì đã để cho Người tá túc.
  • Buổi sáng cuối cùng tại nhà thờ Cha Tam, Người đã suy tư và cầu nguyện rất lâu và sau đó lạnh lùng chờ đợi quân phản loạn đến bắt Người.

Trong lịch sử Dông Tây cận đại, nói đến các lãnh tụ quốc gia có Trí và Dũng , chúng ta có thể kể cố Thủ Tướng Churchill của Anh quốc, cố Tổng Thống

De Gaulle của Pháp-quốc, cố Tổng Thống Sadat của AI-Cập, cố Tổng Thống Phác Chánh Hy của Đại Hàn, và cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm của Việt Nam. Có thể còn nhiều vị khác nữa cũng có Trí và Dũng, nhưng chưa có cơ hội để làm sáng tỏ cái Trí và Dũng của mình.

Churchill và De Gaulle đã qua đời vì trọng tuổi. Ngô Đình Diệm, Phác Chánh Hy và Sadat đã bị thảm sát. Riêng cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm, được cái vinh dự Vị Quốc Vong Thân.

Người đã nằm xuống, nhưng lòng thương tiếc, cảm phục Người mỗi ngày mỗi tăng ở trong cũng như ở ngoài nước. Những kẻ đã trực tiếp hay gián tiếp nhúng tay vào vụ thảm sát Người đã chối leo lẽo. Họ đã có mặc cảm tội lỗi giết thầy phản bạn, mãi quốc cầu vinh, và đang bị đồng bào trong và ngoài nước nguyền rủa. Họ đã không có Trí nên thua mưu Cộng sản và bị ngoại bang lợi dụng đến nỗi phải mất nước, họ không có Dũng nên tham sinh úy tử, nhục nhã đầu hàng Cộng san hoặc lanh chân đào tẩu ra ngoại quốc bỏ rơi đồng bào và đồng ngũ. Hôm nay chúng ta tưởng niệm một vị lãnh tụ ái quốc, một đấng quân tử chân chính. Và cũng là một dịp cho chúng ta bày tỏ lòng thương xót quê hương yêu dấu đã phải mất chủ quyền từ năm 1963 đến năm 1975, và đã phải lọt vào vòng kiềm tỏa của Cộng sản từ năm 1 975 cho đến nay.

Tuy nhiên trong cái rủi ro lớn lao ấy, chúng ta hãy tìm một cái may nhỏ nhoi để tự an ủi. Phải chăng Thượng Đế đã dành cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm một cái chết đau thương để cho đồng bào ở quốc nội càng thương tiếc con người ái quốc chân chính và càng tin tưởng ở chế độ quốc gia do Người chủ trương đù hiện nay phải chịu sự thống trị hà khắc của Việt Cộng, để cho chúng ta ở hải ngoại, mặc dù đang sống tạm gửi, còn hãnh diện với ngoại nhân là chúng ta đã có một lãnh tụ quốc gia chân chính có thừa Trí và Dũng .//

Tài liệu tham khảo:

* Hai Mươi Năm Qua / Đoàn Thêm (Xuân Thu).

* Những Bí ân Lịch Sử Đàng Sau Cuộc Chiến Việt- Nam, Quyển I / Lữ Giang.

* ( 1 ) Các tướng Tầu chỉ huy quân đội chiếm đóng là Lư Hán và Tiêu Văn đã nhận nhiều quà biếu bằng vàng khối của Việt Minh (vàng do dân chúng đóng góp trong ''tuần lễ vàng'') nên đã khuyến giục các lãnh tụ các đảng phái quốc gia (Việt Quốc, Việt Cách v.v) như Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam v.v. tham gia Chính-phủ Liên-hiệp Quốc Cộng, khiến sau này họ phải ân hận vì bị Việt Minh lợi dụng và xuỶt vong mạng. Nhà cách-mạng lão thành Huỳnh thúc Kháng, cũng chỉ vì nhiệt tình với quốc gia dân tộc nên đã nhận lời mời của Hồ Chí Minh tham gia chính quyền để rồi phải mang tiếng làm bình phong cho Việt Minh đàn áp và sát hại Việt Quốc trong vụ án ngụy tạo "Ôn Như Hầu", và cuối cùng âm thầm qua đời trong uất hận tại Nghĩa Hành, Quảng Ngãi.(Xin xem Những Bí ẩn Lịch Sử Đàng Sau Cuộc Chiến Việt Nam, Quyển I / Lữ Giang, từ trang 332-337.)

* ( 2 ) Xin xem Những Bí ẩn Lịch Sử Đàng Sau Cuộc Chiến Việt Nam, Quyển I 1 Lữ Giang, từ trang 368-376.

  • ( 3 ).Khánh thành long trọng Hội-chợ Ban Mê Thuột. 8 giờ. 3 0 TT. Ngô Đình Diệm tới, gần đến khán đài, bị một thanh niên bắn bằng tiểu liên Mas.49 dấu dưới áo blouson. Nhưng đạn lại trúng BT. Cải Cách Điền Địa Đỗ Văn Công; ông Công bị thương nặng ở tay và ngực. Người bắn bị bắt ngay. Lễ khánh thành tiếp tục theo chương trình. Thanh niên bị bắt là Hà Minh Chí, tức Phạm Ngọc Phú, đã từng làm việc ở ty Thông Tin Tây Ninh.(Hai Mươi Năm Qua/Đoàn Thêm/ trang 212)

NguyễnVăn Lượng/TiếngThịPhi;