Ba Cay Truc

  • Tăng kích thước chữ
  • Kích thước chữ mặc định
  • Giảm kích thước chữ
Chào Mừng Bạn Đến Với Trang Báo Điện Tử­ Ba Cây Trúc **** Mọi bài vở và thư từ xin gởi về bacaytruc@gmail.com**** Có hiểu mới biết thương, có thương thì mới trọng, có trọng thì mới biết giữ gìn ****

Kẻ còn sống sót

Email In

HARRY POTTER à l’ECOLE DES SORCIERS


Theo bản dịch từ Anh Ngữ sang Pháp Ngữ của Jean-François Ménard




Harry Potter tại trường Phù thủy

Người dịch : Alexandre LÊ HOÀNG.

*****************



1. Kẻ còn sống sót.

 

Ông Bà Dursley, ở nhà số 4, đường Privet Drive, luôn luôn tự phụ nói rằng tình trạng tâm thần của mình hoàn toàn bình thường, cũng là điềm tốt cho họ. Không một ai tưởng tượng cả hai ông bà có thề vướng mắc vào những chuyện kỳ dị hay bí ẩn. Vì cả hai ông bà đâu có thì giờ phung phí vào những trò vẩn vơ đó.

Ông Dursley điều hành cơ sở Grunnings, một xí nghiệp chế tạo máy khoan. Thân hình cao lớn và mập mạp, cổ ông dường như không có, ngược lại với bộ râu mép ông tiả khá đẹp. Còn bà Dursley, dáng vóc mảnh khảnh, tóc vàng và cái cổ dài gấp đôi loại trung bình, thật tiện để ngó người hàng xóm, khi bà dòm qua hàng dậu quanh vườn. Hai ông bà có mụn con trai tên là Dudley và trước mắt họ, đó là đứa trẻ đẹp nhứt thế gian.

Gia đình Dursley có đầy đủ những gì họ muốn. Chỉ một điều bất hạnh còn giử kỷ, đó là cái bí mật mà cả hai ông bà sợ nhất nếu bị người khác khám phá ra. Biết đâu có người sẽ nghe chuyện gia đình Potter, câu chuyện mà ông bà vững tin không bao giờ thố lộ. Bà Potter là chị ruột của bà, nhưng hai người không còn gặp nhau cả mấy năm nay. Thật vậy, bà Dursley tỏ ra như mình là con một, bởi lẻ chị bà với cả ông chồng vô tích sự kia, đều muốn tránh rất xa những gì dính dáng đến cái tên Dursley. Hai ông bà sẽ run sợ với ý nghĩ khi người hàng xóm, tình cờ, kể chuyện gặp gia đình Potter ngoài phố. Họ cũng từng biết gia đình Potter có đứa con trai, nhưng đã lâu chẳng thấy. Sự hiện diện của đứa con trai tạo thêm lý do phụ để giử khoảng cách với gia đình Potter: Không lý do gì để thằng Dudley lui tới với đứa trẻ như thằng nhỏ kia.

Vào một buổi sáng thứ ba, khi ông bà Dursley vừa thức dậy, bầu trời xám xịt, buồn tẻ và không gian mây mù trơ trụi, chỉ để lại sự tiên liệu những điều kỳ dị và bí ẩn kia không bao lâu sẽ xẩy ra trên toàn quốc. Ông Dursley, vẽ mặt hầm hừ, thắt chiếc cà-vạt cũ kỹ để đi làm, còn bà Dursley thì vừa nói với điệu bông lơn những chuyện ngồi lê đổi mách của người hàng xóm, vừa cố gắng đặt thằng Dudley vào chiếc ghế trẻ con, nó đang ráng cổ khóc rống, hai buồng phổi căng phòng.

Hai ông bà, chẳng ai để ý con chim cú to tướng, trong bộ lông xám cháy, bay xẹt qua trước cửa sổ.  

Đúng tám giờ rưỡi, ông Dursley, tay xách cặp, hôn nhẹ lên má vợ và muốn nựng thằng Dudley. Nhưng không được, vì cậu con trai đang cơn giận và vứt dĩa đầy ngũ cốc tung toé vào tường.

-Thật thằng cưng tôi đáng ghét quá. Ông cười thầm và bước ra khỏi nhà.

Lên xe, ông lái thụt lùi dọc theo con đường từ ngoài ngỏ vào nhà.

Đến ngay góc cuối đường, lần đầu tiên ông nhận thấy điềm lạ: một con mèo đang đọc bản đồ chỉ đường. Thoáng qua, ông không nhận rõ ra đó là vật gì. Ông liền quay đầu trở lại để nhìn lần thứ hai. Đúng là con mèo khoang ngồi ở góc đường Privet Drive, nhưng không còn dấu vết bản đồ chỉ đường. Vậy thì cái gì đã hiện ra trong óc ông ? Chắc ông đã bị phản ảnh của tia sáng bên lề đường. Ông liền chớp mắt và đăm đăm nhìn con mèo. Con vật cũng nhìn lại. Đáng ra, đến góc đường xe phải trở hướng, nhưng ông cứ tiếp tục quan sát con mèo qua tấm kíếng chiếu hậu. Con vật đang đọc bảng chỉ đường « Privet Drive » - nhưng không, nó không đọc mà nó « nhìn » tấm bảng. Mèo thì làm gì mà đọc được bản đồ và chữ viết. Ông lấy lại tỉnh táo và cố đuổi chuyện con mèo xám ra khỏi óc. Dọc suốt con đường dẫn vào thành phố, ông tập trung ý nghĩ vào bức thơ quan trọng đặt hàng mua máy khoan và hy vọng có kết quả ngay ngày hôm đó.

Nhưng khi vừa đến ven thành phố thì chợt có cái gì đuổi ý nghỉ máy khoan ra khỏi đầu ông. Ngồi trong xe, giữa lúc xe kẹt xẫy ra vào buổi sáng là chuyện thường, ông bắt buộc chú ý đến sự hiện diện của lớp người đi qua trước mặt, trong lối phục sức kỳ quái : tất cả đều bận áo choàng không tay như trong phim kiếm hiệp. Ông vốn là người không chịu nổi cái lối ăn mặc dị hợm nầy – cái lối bọn trẻ thời nay đôi khi ưa kiểu lôi thôi lếch thếch ! Ông nghỉ rằng đó là cái mốt thời trang đặc biệt ngu ngốc. Ông vừa gỏ vào tay lái và vừa đưa mắt nhìn toán người khoác áo lố lăng nói chuyện thì thầm bên tai nhau ra vẻ khiêu khích. Ông nổi xùng khi thấy trong đó có một cặp chẳng còn trẻ trung chút nào. Lão kia, chắc chắn tuối già hơn ông và điều nầy đâu bắt buộc lão ta bận chiếc áo kiếm hiệp mầu xanh ngọc bích. Quả là trơ trẽn !. Ông liền nghĩ đến một cuộc biểu diễn mua vui dọc đường - những người đang làm việc nầy có thể là để quyên tiền giúp cho một dự án nào đó. Việc ấy không thể chỉ còn là như vậy. Đoàn xe bắt đầu chuyển bánh và sau vài phút, xe ông đã vào bãi đậu của hảng Grunnings. Những chiếc máy khoan bắt đầu tìm lại vị trí trong đầu ông ta.


(xem tiếp bài 2)