Ba Cay Truc

  • Tăng kích thước chữ
  • Kích thước chữ mặc định
  • Giảm kích thước chữ
Chào Mừng Bạn Đến Với Trang Báo Điện Tử­ Ba Cây Trúc **** Mọi bài vở và thư từ xin gởi về bacaytruc@gmail.com**** Có hiểu mới biết thương, có thương thì mới trọng, có trọng thì mới biết giữ gìn ****

Mật Mã Da Vinci Code - Dan Brown (bài 3)

Email In

Bài số 3 ( từ page 29)

 

 

 

Ngồi trên chiếc ghế dành cho khách, chiếc Citroen ZX, đèn pha quay trên nóc, chạy hết tốc lực theo con đường Saint-Honoré, Robert Langdon, đầu ló ra ngoài cửa xe hứng cái không khí nhẹ nhàng cuả đêm tháng tư, dự tính sắp lại ý kiến tuần tự trong óc. Tắm rữa cấp tốc và cạo qua loa bộ râu để ít ra tạo lại bộ mặt con người, nhưng ông ta đang bị cú sóc bởi cái sợ hãi đã dấy lên trong tâm trí hình ảnh ghê rợn về cái xác chết cuả Jacques Saunière.

 

Jacques Saunière đã chết thật.

Langdon không kiềm chế được cái cảm tình nặng trĩu khi nghĩ đến cái chết cuả người quản thủ già. Mặc dù có tiếng ưa sống biệt lập, ông ấy đã được xem như là người bảo vệ nghệ thuật vừa tài ba vừa đam mê. Những cuộc khảo cứu về mật mã và ký tượng ẫn dấu trong những bức họa cuả Poussin và Teniers nằm trong số các sách tham khảo ưng ý cuả Langdon, từ lâu muốn có một cuộc tiệc vui dành cho cuộc gặp gở với viên quản thủ già.

Hình ảnh xác chết cuả viên quản thủ già cứ đeo đuổi Langdon. Vì sao cái cảnh kỳ cục đó lại đạo diễn ngay lúc chết ? Langdon quay mặt và nhìn qua cánh cửa, cố gắng xua đuổi xa hình ảnh đó.

Ngoài trời, trên đường phố, quang cảnh náo nhiệt bắt đầu dịu dần : những người bán hạnh đào nướng đang đẩy chiếc xe « căng đi », một cậu bồi bàn ném bao rác trên vệ đường, cặp tình nhân ôm ghì vào nhau cho thêm ấm. Bầu trời gió quyện thổi mùi hương hoa nhài. Chiếc Citroen đầy uy quyền lượn qua lượn lại giữa những xe cộ khác, xẻ lối đi nhờ tiếng còi hú hai loa.

-Quan chánh sở Fache rất thỏa mãn được biết ông còn ở lại Paris, viên cảnh sát Collet, lần đâu tiên kể từ khi rời khỏi khách sạn, buột miệng nói. Đây cũng là một sự vui mừng trùng hợp.

Langdon thì nhận thấy sự kiện đáng giận hơn, và chẳng chút tin tưởng vào sự trùng hợp. Đã hai mươi năm qua ông từng chuyên nghiên cứu mối tương quan mật thiết ẫn dấu giữa những ý thức hệ và  những biểu tượng tạp nhạp lủng củng. Ông minh định thế gìới chẳng khác nào như một bức màn thêu chằng chịt bởi lịch sữ và sự kiện thâm tình trói chặt vào nhau. « Có thể không thấy những mối liên hệ đó, đúng như bài giảng tại lớp cuả ông ta, nhưng luôn luôn hiện diện, ẫn dấu ngay dưới lớp võ bọc sự vật ».

-Tôi đoán mượng tượng rằng chính trường Đại học Mỹ tại Paris đã nói cho anh biết nơi tôi ở đâu ? Ông hỏi.

-Không phải, Collet cất đầu nói, chính là Cảnh sát quốc tế.

Cảnh sát quốc tế, chắc chắn rồi, Langdon nghĩ vậy. Ông ta quên rằng lời yêu cầu cuả viên gác trực khách sạn, dù cho bề ngoài chẳng có gì quan tâm, vị khách trình giấy thông hành, việc mà mọi người ngoại quốc phải tuân thủ chấp hành, sẳn sàng mọi lúc cho phép những điều tra viên ngành Cảnh sát quốc tế hầu khắp Âu châu biết rỏ người nào ngủ tại đâu. Chỉ cần vài giây đồng hồ là xác định được Langdon đang ở tại khách sạn Ritz.

 

Chiếc Ciroen tiếp tục tăng tốc độ và mọi người bắt gặp ngọn đền pha cuả tháp Eiffel chiếu tỏa những luồng ánh sáng khắp trên mọi mái nhà thành phố Paris. Langdon nghỉ đến Vittoria, nhớ tới lới hẹn hò thích thú năm ngoái, hảy tìm gặp lại nhau một lần sau sáu tháng tại một địa điểm mỹ lệ trên hoàn cầu. Lẻ dĩ nhiên tháp Eiffel là nơi chọn lựa cuộc gặp gỡ. Tiếc thay, chuyện đó chỉ có từ một năm nay sau lần ôm hôn nàng tại sân bay dộn dịp cuả thành Rome.

-Ông đã leo lên bụng cô ta chưa ? Collet hỏi.

-Xin lổi anh nói gì? Langdon hỏi lại, vì ông ta chưa nghe rỏ.

-Chắc cô ta đẹp lắm nhỉ ? Ông đã lần nào lên tận đỉnh chưa?

Langdon ngước mắt nhìn lên trời.

-Ề....chưa, ông ta chỉ trào ra tiếng thở dài.

-Đó là biểu tượng nước Pháp. Tôi nhận thấy nước nầy thật hoàn hảo.

Langdon gật đầu, nhưng tâm trí để vào nơí khác. Những chuyên gia ký tượng đã thường để ý rằng nước Pháp -  một quốc gia cuả bọn vũ phu chạy theo ống quần đàn bà và những hoàng đế vừa hung hăng vừa lùn xịt từ thời Pépin le Bref đến Nã phá luân- chẳng ai biết chọn một biểu tượng quốc gia thích hợp hơn cái hình dương vật cao ba trăm thước nầy.Vừa đến đầu đại lộ Opéra, chiếc xe chạy hết tốc lực qua đường Rohan, quên mất đèn đỏ ở đường Rivoli, và lướt qua phòng bán vé bảo tàng viện Louvre. Cổng Carrousel đứng sững ngay bên phải trước mặt họ.

Cổng Carrousel.

Chẳng phải nguyên nhân vì sự phong phú nghi lễ đã diễn ra xa xưa mà những người yêu chuộng nghệ thuật sùng kính công trình xây dựng đó, nhưng, bởi vì khi đứng dưới vòm cầu chạm trỗ, mọi người đều có thể thấy, về phia tây là viện bảo tàng chơi bóng nhà vua, Musée de paume, và về phía đông là viện bảo tàng Louvre.

Toà lâu đài nguyên khối thời Phục hưng từng được tiếng tăm là viện bảo tàng hạng nhất thế giới đã dần dần hiện ra bên trái.

 

Điện Louvre.

Không thể dùng mắt mà nhìn trùm cả dảy lâu đài, tuy nhiên Langdon cũng cảm thấy một quang cảnh tuyệt vời khá quen thuộc. Cái sân nội đầy công trình kiến trúc đố sộ, mặt tiền dáng dấp oai nghiêm cuả điện Louvre vượt đứng thẳng như một kinh thành chống cả bầu trời Paris. Công trình nầy hình dáng một móng ngựa rộng lớn và dài nhất Âu châu. Ngay cả bải đất trước mặt có cả ba mươi lăm ngàn thước vuông vẫn không khoã lấp vẽ oai hùng cuả mặt tiền điện. Có một ngày ông ta thử tính bằng cách lội bộ, và biết rằng chu vi điện Louvre có khoảng dài hơn bốn cây số.

Cứ ước tính trung bình năm ngày thời gian cần thiết đi thăm tận mắt sáu mươi lăm ngàn ba trăm tác phẩm nghệ thuật trong điện, khách tham quan thuờng chọn phương thức « nhẹ nhất » - thực hiện một cuộc thăm chớp nhoáng chủ yếu nối liền bước chân với ba họa phẩm kiệt tác nỗi tiếng nhất. Đó là La Joconde, La Vénus de Milo và La Victoire de Samothrace. Riêng chỉ có một anh chàng ký giả Mỹ, vừa là nhà văn châm biếm, đã tự hào rằng anh đã đi xem tất cả ba tác phẩm đó mất hết năm phút năm mươi sáu giây.

Jérôme Collet giật ống nói đài phát thanh trong xe và nói luôn một tràng :

-Ông Langdon đã vừa đến cách đây hai phút.

Một câu trả lời  không rỏ rền rền trong máy. Collet quay mặt về phía người khách :

-Ngài chánh sở đang đợi ông tại cổng vào La Pyramide.

Quên mất cả bảng cấm, hắn lái chiếc Citroen thẳng vào sân nội điện, trực chỉ toà lầu Denon. Cửa đi vào bảo tàng viện sừng sững nằm bên trái, bọc quanh bởi bảy hồ hình tam giác với vòi nước lóng lánh vụt cao.

Tháp Pyramyde.

Đã có những cuộc tranh cải ngay từ khi xây tháp Pyramide bởi kiến trúc sư Mỹ gốc Tàu, I.M.Pei, cữa chánh vào điện bảo tàng đã trở nên danh tiếng chẳng kém gì điện Louvre. Là người tranh tài về lối ẫn dụ với Goethe khi ông nầy miêu tả sự kiến trức chẳng khác nào như loại âm nhạc đông đặc, những người chỉ trích tháp Pyramide nhận ra rằng nó hài hoà gần như những móng tay cọ vào mặt bảng đen, trong khi đó thì cũng có những khách tham quan tỏ ra thán phục sự hài hoà tuyệt sắc hiện thân giữa cũ và mới : tự nói lên biểu tượng bảo tàng Louvre bước vào thiên niên kỷ mới.

-Ông nghỉ thế nào về tháp Pyramide cuả chúng tôi ? Collet hỏi.

Langdon nhăn mặt. Không phải đây là lần đầu một người Pháp hỏi ông ta như vậy. Câu trả lời luôn luôn tế nhị. Nếu ông ta ngỏ lời khen ngợi thì có nguy cơ qua mặt một người Mỹ thô lỗ không văn hoá. Nếu chê, thì ông ta là người khinh miệt sự cao ngạo cuả quốc gia.

Langdon tìm cách trả lời bên lề câu hỏi:

-François Mittérand là vị tổng thống đầy táo bạo....

Người ta quy tội vị thủ lãnh quốc gia Pháp, người chủ xướng đề án nhức nhối với hội chứng các triều đại hoàng đế Pharaon. Họ đã từng phong cho con người đại tài tử Ai cập cái tên « ông Sphinx » (Sphinx là tượng hình con quái vật kỳ bí đầu người thân sư tử bên Ai cập).

-Mà ông chánh sở tên gì nhỉ ?- Ông tên Bézu Fache và trong cơ quan cảnh sát thì phong cái tên « con Bò Mộng ». Cửa vào đường kia, chúc ông may mắn.

-Anh không xuống sao ?

-Thưa không. Nhiệm vụ tôi kết thúc tại đây.

Viên cảnh sát quay lui. Langdon thở dài và bước ra khỏi xe.

Nhìn chiếc xe chạy xa, Langdon nghỉ rằng còn thì giờ để thay đổi ý kiến, quay trở ra đường Rivoli tìm chiếc taxi trở về khách sạn. Nhưng có thể đó là một ý kiến không tốt : chắc thế nào cũng bị kéo khỏi giường lần thứ hai....

Rảo bước di dưới cơn mưa bụi do mấy vòi nước bắn ra, Langdon có cảm tưởng mình đang đi vào một thế giới ảo tưởng. Tính siêu thực cuả cảnh đêm lại một lần nữa bám chặt theo ông ta. Vừa cách đây hai mươi phút, ông đang ngủ yên thấm trong khách sạn, và bây giờ ông ta bị ép buộc khiêng ra đây đặt dưới chân một cái tháp xây lên bởi con quỷ Sphinx để gặp con «Bò mộng ».

Tôi bị gài bẫy trong bức hoạ cuả Salvador Dali.

Ông ta bước nhanh về phía cổng chính đồ sộ. Chẳng thấy có một ai.

Bắt buộc tôi phải gỏ cửa chăng?

Langdon tự hỏi có khi nào các nhà khảo cỗ uyên bác về Ai cập cuả đại học Haward đã từng gỏ vào cửa các tự tháp, hầu mong câu trả lời ? Vừa đưa tay về phía tấm kiếng lớn, nhưng cùng một lúc, một bóng người hoá thạch hiện ra, leo hối hả, từng bốn bậc một, cuả chiếc cầu thang trực chỉ về phía ông ta

Một người to mập, trong bộ vét lớn đen xẫm, chật ních đối với hai bờ vai rộng, một chiếc điện thoại di động bên tai, ra dấu cho Langdon đến gặp ngay hắn.

-Tôi là chánh thanh tra Bézu Fache, giám đốc sở cảnh sát hình sự.

Ông ta có giọng nói trầm trầm trong cỗ họng như tiếng gầm cuả sấm sét trước khi trời sắp có cơn dông bão tố.

-Ông Robert Langdon., tôi vui mừng được gặp ông, chánh thanh tra nói.

Một bàn tay to bự sư lắc mạnh tay Langdon.

-Viên cảnh sát cuả ông có cho tôi tấm ảnh, Langdon nói. Có phải chính ông Jacques Saunière, ông ta bị.... ?

Viên chánh thanh tra chằm chằm nhìn Langdon với đôi mắt đen ngòm.

-Cái tấm ảnh mà ông vừa thấy chỉ là phần khai mào lớp đạo diễn cuả tấn tuồng, ông Langdon ạ...