Ba Cay Truc

  • Tăng kích thước chữ
  • Kích thước chữ mặc định
  • Giảm kích thước chữ
Chào Mừng Bạn Đến Với Trang Báo Điện Tử­ Ba Cây Trúc **** Mọi bài vở và thư từ xin gởi về bacaytruc@gmail.com**** Có hiểu mới biết thương, có thương thì mới trọng, có trọng thì mới biết giữ gìn ****

Mật Mã Da Vinci Code - Dan Brown (bài 4)

Email In

Bài só 4 (từ trang 36 )

 

 

 

 

Ông chánh thanh tra Bézu Fache bước về phía trước như con « bò mộng » nỗi trận lôi đình trên đấu trường, hai vai bật ra phía sau, chiếc cằm dính cứng vào ngực. Mái tóc đen ông lóng lánh bởi chất sáp, bành ra chữ « V » trước trán, tạo nên hình ảnh một mủi tàu. Ánh mắt ủ dột và tinh tường với sự nghiêm khắc bất dung tha dường như thiêu đốt cả khoảng đường ông đi qua. Langdon theo Fache bước trên những tầng cấp bằng đá thanh đi xuống dưới tháp nhọn toàn bằng kính thủy tinh. Hai người đi ngang giữa hai viên cảnh sát trang bị súng liên thanh đang đứng gác dưới chân tầng cấp. Một hiệu lệnh rỏ ràng đưa ra : tối nay, không được ai ra vào mà không có lệnh cuả ông chánh thanh tra Fache.

Trên đường xuống tầng cấp, Langdon đang cố chống cự lại một mối nghi ngờ càng lúc càng mạnh. Cuộc tiếp đón cuả viên chánh thanh tra chẳng gì nhã nhặn, và ngay cả điện Louvre cũng chìm đắm trong cái không khí tang tóc. Cầu thang tối mù, chẳng khác nào như dảy ghế trong phòng xi-nê-ma, với mấy bóng đèn nằm kẹt trong các hóc tầng cấp. Đưa mắt lên mái nhà bằng thủy tinh, xuyên qua các tấm kính dần dần phủ mờ bởi lớp mưa bụi lóng lánh từ những vòi nước bắn ra, Langdon chỉ còn nghe tiếng vọng những bước đi.

-Ông nghĩ thế nào ? viên chánh thanh tra kèm theo câu hỏi đúng nhịp với cái hàm hất lên về phía Langdon.

Quá mệt để nói chuyện quanh co, Langdon cất tiếng thở dài :

-Quả thật cái tháp rất tuyệt mỹ !

-Một khuyết tật xấu xí mọc giữa thành phố Paris, Fache lẩm bẩm.

Lại một chuyện lạ nữa ! Cái ông chánh sở thanh tra nầy chẳng có vẻ một típ người đúng điệu. Ông ta có biết rằng chính tổng thống François Mittérand đã yêu cầu rỏ ràng, mái tháp Pyramide phải có 666 tấm thủy tinh hình thoi - để đáp lại hạnh phúc cuả những nhà tài tử về huyền bí, con số đó theo cỗ truyền liên đới với quỷ Satan hay sao?.

Langdon mong muốn giử kín bản tin đó cho riêng mình mà thôi.

Khi hai người đặt chân đến nền sân tầng dưới hầm, một khoảng trống lớn từ từ trong bóng tối hiện dần ra. Sảnh đường mới đi vào điện nằm dưới mặt đất choán cả một diện tích hai mươi ba ngàn thước vuông, chẳng khác nào một động không đáy hai bên tường bằng đá cẩm thạch mầu son vàng, một chất liệu được chọn cho hợp với mầu đá những kiến trúc xây nhô cao ở  trên mặt đất. Thường nhật, sảnh đường đèn sáng và chật người, nhưng tối nay có dáng như hầm mộ tối om.

-Đội nhân viên an ninh ở đâu ? Langdon tự hỏi.

-Nhân viên an ninh có khoảng bốn chục người. Dường như hôm nay chúng để lọt vào điện một tên bất hảo. Chúng tôi đang thẩm vấn từng người một, bên cánh dảy phòng Sully. Nhân viên cuả tôi hiện đứng ra thay thế. Ông có biết rỏ Jacques Saunière không ?

-Là người có tiếng tăm, nhưng tôi chưa được gặp lần nào.

-Và dù sao, ông cũng có hẹn gặp ông ta tối nay...., viên chánh thanh tra nhấn mạnh với vẻ ngạc nhiên.

-Đúng thế. Chúng tôi định gặp nhau ở trường đại học Mỹ, ngay buổi tiếp tân sau cuộc nói chuyện cuả tôi, nhưng ông ta không đến.

Chẳng cần bước chậm, viên chánh thanh tra nguệch ngoạc vài chữ vào cuốn sổ tay. Lúc nầy Langdon có đủ thì giờ để nhận ra được một tháp nhỏ lật ngược ở cuối hành lang dọc theo bên phải. Hắn đi sau viên thanh tra Fache theo chiếc cầu thang chừng chục tầng cấp dẫn đến một hành lang rộng trần vòm tròn có biển đề chữ « Denon ».

-Ai là người đã yêu cầu cuộc gặp gở tối nay, ông hay Saunière ? viên chánh thanh tra hỏi.

Câu hỏi xem có vẻ kỳ cục.

-Không phải tôi. Chính ông Saunière. Cô thư ký cuả ông ta nhắn tôi qua điện thư từ đại học Harvard mấy tuần trước, cho tôi biết rằng ông giám đốc quản thủ ước mong được bàn chuyện với tôi trong thời gian tôi có mặt tại Paris.

-Về chuyện gì ?

-Tôi cũng chẳng rỏ. Đoán chừng một đề tài nghệ thuật.Hai chúng tôi có những điểm ích lợi tương đồng.

Fache có vẻ nghi ngờ.

-Thế ra ông không hỏi ông ấy cuộc gặp gở nhắm vấn đề gì ?

Không. Ngay lúc đầu, tôi định đặt câu hỏi, nhưng cố nén giử lối hỏi giải thích rành mạch. Jacques Saunière là người đàn ông đơn độc, ít thích đua đòi hỏi kiểu sống thượng lưu. Tôi tự cảm thấy vinh dự được gặp một nhân vật như vậy.

-Ông Langdon, ông không thể ít ra tìm cách tưởng tượng một vấn đề mà Saunière muốn bàn với ông ? Há lẻ ngay cả buổi chiều trước khi ông ta bị ám sát ? Chuyện nầy rất hữu ích cho cuộc điều tra cuả chúng tôi....

Cái lối nói khẩn khoản cuả Fache làm Langdon khó chịu.

-Tôi là người rất ham mộ những công trình cuả Saunière và tôi tự hào việc ông ta chấp nhận cho tôi một cuộc gặp gở. Tôi đã dùng rất nhiều sách vở cuả ông ta trong những bài giảng. Như việc từ năm nay tôi đã ứng dụng quyển sách nói một đề mục thuộc khả năng cuả ông ta, và tôi lấy làm hoan hỉ được hưởng ít nhiều lợi ích ánh sáng đó.

Fache ghi vào số tay.

-Tốt lắm. Đề mục nào ?

-Khoa học tranh tượng tôn thờ vị đại nữ thần và khái niệm về Nữ giới thiêng liêng.

Fache đưa tay vuốt tóc với dáng điệu bối rối.

-Và đó là phần chuyên môn cuả ông ta ?

-Đúng là chuyên gia số một cho câu hỏi.

-Tôi thấy rằng....

Hiển nhiên, nhưng viên chánh thanh tra chẳng thấy gì cả. Mặc dù đó là chuyện thật. Thêm vào sự hiểu biết sâu sắc cuả Saunière về di vật liên hệ đến nữ thần mẹ, các nghi lễ cúng thần Wicca và Nữ tính thiêng liêng, hai mươi năm qua trong nhiệm vụ, đã gom góp cho điện bảo tàng Louvre một số lớn tác phẩm mỹ thuật chọn lựa trên thế giới qua chủ đề : « labrys » (cái rìu hai lưởi thời thái cỗ Hy lạp) cuả những nữ tu tại Delphes, một điện thờ lâu đời nhất tại Hy lạp. Những cây quyền trượng bằng vàng, hàng trăm chiếc chìa khoá chữ thập có vòng quai ankhs, giống như các thiên thần nhỏ đứng thẳng người, những cây đàn rung thành tiếng, những cái mõ quay dùng để tẫy trừ ma quỷ, những tượng nhỏ nữ thần Isis đang vú sữa cho thần Horus...

-Chắc Saunière có thể đã biết qua bản chép tay mà ông đã tham khảo. Ông ấy có ao ước đề nghị giúp đở ông không ? viên chánh thanh tra gợi ý.

-Chẳng một ai biết dự án đó, chỉ trừ ra nhà xuất bản cuả tôi.

Langdon chẳng hề cho ai biết lý do bí mật xung quanh dự án cuả mình. Đó là quyển sách ông ta dự tính cho mang tên : « Những ký hiệu Nữ tính bị thất truyền » (Les Symboles du Féminin sacré disparu), đề nghị một lối diễn giải rất trái nghịch với lối rập khuôn cuả các tôn giáo. Việc nầy chắc sẻ dấy lên nhiều vụ tranh cãi. Hành lang được khai thông bởi hai thang máy đứng yên, chận ngay chân một cầu thang nhỏ. Lúc nầy Langdon không nghe tiếng chân cuả Fache ở phía sau, liền quay lại và thấy viên chánh thanh tra đang dừng chân trước cửa thang máy chấp vụ.

-Ông Langdon, mình nên đi đường nầy cho mau hơn.

Và dường như người Mỹ tỏ ý do dự, mặc dù sự xữ dụng tất yếu cuả thang máy để leo một mạch lên hai tầng :

-Có cái gì trục trặc chăng ?

Mọi việc đều tốt, Langdon dối lòng và tiến đến thang máy. Hồi còn bé, có lần ông ta bị té xuống giếng và nằm kẹt dưới đáy cả mấy tiếng đồng hồ khủng khiếp trước lúc người ta đến cứu. Từ đó, ông mang dị chứng sợ những chỗ kín đáo. Thang máy là một trong những máy móc an toàn, ông luôn luôn lập lại câu đó mỗi lần đi thang máy. Nhưng con quỷ quen thuộc kia thường đưa tin trước : Mầy nên nói rằng đó là cái hộp sắt treo trên mặt giếng đóng kín !

Giử nguyên hơi thở, hé nụ cười nhăn nheo trên môi, Langdon theo chân viên chánh thanh tra đi vào buồng thang máy.

Thời gian lướt qua một tầng lững và một nguyên tầng. chừng khoảng chục giây đồng hồ.

Thang máy chuyển động.

-Thế ra Saunière và ông chưa từng nói chuyện với nhau ? viên thanh tra trở lại câu chuyện. Ông ấy không bao giờ viết ? Không bao giờ gửi bất cứ cái gì cho ông ?

Lại còn một câu hỏi nặng nề ẫn ý.

-Không bao giờ, Langdon lúc lắc đầu vừa nói.

Fache đồng ý, ghi nhận câu nói đó trong khi hai mắt vẫn chằm chằm nhìn lên những tấm cửa sắt. Còn Langdon thì thử tập trung ý nghỉ về chuyện bốn bức vách thang máy vây quanh. Ánh mắt Langdon bị thu hút bởi thanh kẹp chiếc cà vạt bằng kim loại cuả người đồng hành - một cây thập tự bằng bạc nạm mười ba hột đá mã não nhỏ vân đen. Một cây thập tự gắn nhiều đá qúy. Cây thánh giá cẫn nhiều đá qúy (gemmata) tượng trưng chuá Jésus và mười hai môn đệ tông đồ cuả Ngài. Langdon cũng rất lấy làm lạ khi thấy một vị công chức cao cấp cuả nước Pháp đã công khai sùng bái tín ngưởng tôn giáo cuả mình.

-Đó là cây thập tự gemmata, viên chánh thanh tra đột nhiên nói.

Langdon lấy làm ngạc nhiên về lời nhận xét đó, mở mắt to và nhờ sự phản ảnh cuả cánh cửa thanh máy, thấy cặp mắt viên chánh thanh tra đang chĩa thẳng vào mình.

Thang máy dừng. Những cánh cửa mở toang và Langdon là người bước ra đầu tiên, biến người giữa phòng rộng thênh thang dưới bức trần cao ngợi. Nhưng thế giới mà Langdon vừa bước vào không giống như thế giới ông ta mong đợi.

Langdon lấy làm ngạc nhiên, liền đứng sững lại.

Viên chánh thanh tra Fache nhìn ông ta với con mắt bén nhọn.

-Tôi quả quyết rằng ông chưa bao giờ thăm viếng điện bảo tàng Louvre vào ban đêm ?

Thật vậy. Langdon cùng ý nghỉ và đang tìm cách chuyển hướng câu hỏi. Những phòng bảo tàng thường sáng trưng, nhưng đặc biệt tối nay lại tối om. Thay vì ánh sáng thường ngày màu trắng và mờ chiếu thẳng xuống từ trần cao, thì một vệt đỏ yếu ớt hắt ra từ những nẹp gỗ, vẽ lên trên nền nhà tạo thành những khoảng cách đều đặn, giữa những vũng hồng hồng.

Dù sao họ bắt buộc phải sắp đặt trước cảnh nầy. Hầu hết các bảo tàng viện lớn đều dùng loại ánh sáng mầu đỏ dành cho ban đêm. Đó là những luồng ánh sáng có cường độ yếu nằm sát mặt đất giúp cho nhân viên đi lại trong những phòng chưng bày, mà cũng là để bảo trì những hệ quả tai hại xẩy ra cho các tác phẩm thường trực dưới ánh sáng. Tối nay, bầu không khí điện Louvre dường như ngột ngạt. Tại các góc phòng dường như là những nơi trú ẫn một khối bóng tối nằm chờ và trên vòm trần thường gây nên một cảm giác chóng mặt.

-Tại đây, Fache cho lệnh quẹo ngoặt về bên phải.

Hai mắt Langdon đã làm quen với bóng mờ mờ và những tấm sơn dầu cũng đã cụ thể hoá dần dần quanh ông ta, chẳng khác nào những kính ảnh nhúng vào nước thuốc hiện hình trong phòng tối. Ông ta nhận biết được làn hơi quen thuộc của các-bon phát xuất từ máy trừ khử ẩm thấp hoạt động thường trực để chống lại hậu quả nguy hại cuả thán khí trong hơi thở cuả khách đến xem. Trần nhà trang bị những máy quay phim chĩa thẳng lên các tấm sơn dầu tưởng chừng như đưa ra một thông điệp : « Các vị đang đặt dưới sự canh phòng, xin đừng sờ vào gì cả ».

-Máy hoạt động không ? Langdon hỏi vừa đưa tay chỉ mấy chiếc máy quay phim.

Fache gật đầu.

-Có cho chắc ăn hơn là không.

Langdon nghi ngờ việc nầy. Máy vidéo canh chừng trong một bảo tàng cở nầy chắc giá cả cũng phải đắt,hơn là không có hiệu quả. Với cả mấy ngàn thước vuông phòng ốc cần che chở, chỉ một việc canh chừng trên những màn ảnh cũng phải mất hàng trăm nhân viên kỷ thuật. Phần đông các đại bảo tàng viện hiện đại dùng kỷ thuật « an ninh ngăn chận » : Không nên ngăn chận bọn trộm đi vào ; trái lại, nên ngăn chận bọn cắp trở ra ». Đó là tiền đề căn bản cuả ngành an ninh ban đêm : nếu có một tên trộm nào đang di chuyển một tác phẩm nghệ thuật trong một phòng trưng bày, thì nên đóng ngay những ngỏ ra vào phòng đó và bọn trộm bắt buộc phải ở lại đàng sau các chấn song, ngay cả trước khi cảnh sát đến.

Ở cuối hành lang, Langdon nghe tiếng động cuả giọng nói phát ra từ một cánh cửa đôi mở toang. Một hình ánh sáng chữ nhật hiện lên trên nền nhà.

-Đây là văn phòng cuả Jacques Saunière, Fache giải thích vừa né mình để cho Langdon đi vào.

Căn phòng rộng áp mái ngổn ngang những bức danh họa cỗ. Trên chiếc bàn lớn theo lối xưa chễm chệ một một bức tượng cao gần một thước gợi lại hình ảnh một chàng hiệp sỉ thời Trung cỗ trong bộ áo giáp. Nữa tá cảnh sát năng nổ, điện thoại di động bên tai, hay cầm sổ tay bỏ túi. Một người trong bọn ngồi tại bàn giấy Saunière gỏ vào bàn phiếm máy vi tính xách tay. Bán giấy cuả ông Giám đốc quản thủ hoàn toàn trở thành một bản doanh chiến dịch cảnh sát hình sự cho ban đêm.

-Thưa các bạn, Fache tuyên bố trong một giọng cương quyết. Tôi đến phạm trường nơi xẩy ra tội ác với ông Langdon. Không ai được phiền đến chúng tôi bất cứ lý do gì, nghe rỏ chưa ?

Đoạn ông bước ra khỏi phòng, có Langdon theo sau, và đi qua phòng vuông Salon tiến thẳng đến Đại sảnh đường, phần lẫm liệt danh tiếng nhất cuả viện bảo tàng. Dọc hành lang rộng thênh thang nầy hiện ra vô số danh họa Ý qúy báu cuả điện Louvre.

Cổng vào chắn ngang bởi một cửa thép to lớn gợi lại hình ảnh cái bừa răng thời Trung cỗ, dùng bảo vệ cổng đi vào các pháo đài trong những cuộc tấn công bất thình lình.

-Cái bừa răng an ninh, Fache giải thích vừa tiến đến gần cổng vào.

Ngay trong cảnh tranh tối tranh sáng, riêng cái cánh cửa sắt đồ sộ gây cảm tưởng ngăn chận được cả xe tăng. Langdon liếc mắt nhìn qua song sắt đến cả chiều sâu tối om cuả Đại sảnh đường.

-Sau đây đến phần cuả ông, thưa ông Langdon.

Langdon liền quay về phía Fache, hỏi cách chưng hửng . Sau tôi, nhưng thế nào ?

Viên chánh thanh tra chỉ phần dưới chân cổng sắt cho Longdon.

Vừa quan sát kỷ càng trong bóng tranh tối tranh sáng, Langdon khám phá ra chi tiết mà ông ta không ngờ : người ta đã đẫy cánh cửa sắt lên khoảng sáu mươi phân để có thể đi vào Đại sảnh đường. Với điều kiện phải bò sát đất.

-Chỉ có chúng tôi thôi. Đội cảnh sát khoa học và kỷ thuật vừa hoàn tất nhiệm vụ. Ông trườn người xuống đó đi.

Langdon nhìn lỗ khe hở chật hẹp và xem lại cái bừa răng bằng thép. Hắn bày chuyện chọc cười hay sao ? Cửa sắt nầy có đủ thiết bị để chém đầu kẻ gian.

Fache lẩm bẩm chuyện gì trong miệng và nhìn đồng hồ. Rồi tự quỳ xuống áp cả khối thân to mập lên trên nền nhà. Ông ta trườn sát bụng vừa vặn qua vặn lại ngay dưới lỗ hở. Khi qua được phía bên kia, ông ta đứng dậy nhìn Langdon cùng làm như vậy.

Langdon cất tiếng thở dài và, đặt hai tay lên sàn gỗ, nằm dài sấp bụng trườn mình , tốt hơn xấu, dưới cổng thép răng bừa mà không làm rách tấm áo vét vãi len. Ông ta đụng đầu vào một thanh sắt. Hoan hô, Robert ! ông ta tự khen, ít phật ý đối với thành tích thao diễn tầm thường cuả mình, trước khi đứng dậy cách khó nhọc. Langdon bắt đầu thực hiện cuộc điều tra mà chẳng cần phải trở về đi ngủ.