Ba Cay Truc

  • Tăng kích thước chữ
  • Kích thước chữ mặc định
  • Giảm kích thước chữ
Chào Mừng Bạn Đến Với Trang Báo Điện Tử­ Ba Cây Trúc **** Mọi bài vở và thư từ xin gởi về bacaytruc@gmail.com**** Có hiểu mới biết thương, có thương thì mới trọng, có trọng thì mới biết giữ gìn ****

VIỆT NHO, BÌNH SẢN VÀ XÃ HỘI HẬU CÔNG NGHỆ

Email In

VIỆT NHO, BÌNH SẢN VÀ XÃ HỘI HẬU CÔNG NGHỆ

Lê Việt Thường

PHẦN MỘT

I) CHÂN LÝ VÀ CON NGƯỜI

CHÂN LÝ KHÔNG CÓ QUÊ HƯƠNG, nên vượt lên mọi thời điểm, không điểm nhất định, KHÔNG “duy vãng”, “duy hiện” hay “duy lai”, tức không dừng lại ở quá khứ, hiện tại hay tương lai như từng phần riêng rẽ không nối kết, với tính chất đặc thù, cá biệt của một thực tại thời gian chia cắt, phần mớ, phiến diện. Cũng KHÔNG dừng lại ở một không điểm giới hạn ở “thượng, hạ, tả, hữu”, hay “đông, tây, nam, bắc”. Đó có lẽ là ‎ ý ‎ nghĩa sâu xa nhất của “Thái Bình Minh Triết”, tác phẩm cuối cùng của Cố Triết Gia Kim Định, qua đó một bức “Chúc Thư Tinh Thần” đã được Cố Triết Gia để lại cho hậu thế. Nhưng nếu Chân L‎ý không có quê hương thì tại sao lại có Chủ Thuyết VIỆT NHO? Tại sao trên hành trình đi tìm Chân L‎‎ý, trong biết bao triết thuyết, hệ tư tưởng, Ông lại chọn Nho Giáo, mà không chỉ Nho Giáo cách chung, Ông còn đề cập đến khía cạnh Việt Nho?

Bài này là một chút đóng góp nhằm làm sáng tỏ điều mà qua sự trình bày ở trên và mới thoạt trông có vẻ như một nghịch l‎‎ý, cũng là nguyên nhân của một số ngộ nhận về chủ trương và nội dung tư tưởng của Cố Triết Gia. Phần hai nhấn mạnh đến một nét đặc trưng của Việt Nho là nền Kinh Tế BÌNH SẢN và sự đóng góp của Việt Nho về phương này đối với giấc mơ lâu đời của Nhân Loại về một xã hội HẬU CÔNG NGHỆ.

Chân L‎ý không có quê hương, nhưng người đi tìm Chân L‎ý lại xuất phát từ một môi trường sống, từ một KHÔNG THỜI điểm xác định. Hơn nữa, Chân L‎ý đối với một nền triết l‎ý Nhân Sinh nhắm vào việc phục vụ đời sống, phải được “đâm rễ” vào “cõi người ta”, tức vào thực tại Tâm-Sinh Lý sâu thẳm của con người. Do đó, ở đây mục tiêu mà Chân L‎ý nhắm tới KHÔNG phải là thứ Phổ Quát Trừu Tượng kiểu người “mộng du” của Triết Cổ Điển Tây Phương nằm lưng chừng giữa Trời, “trên không chằng dưới không rễ”. Mà trái lại, L‎‎ý Tưởng mưu cầu ở đây là Chân Lý Đích Thực của loại PHỔ BIẾN TÂM LINH của con người CỤ THỂ “bằng xương bằng thịt”,“ở trong thời gian” (être dans le temps), “ở trong không gian” (être dans le monde), “ở đây và bây giờ” (hic et nunc)    

II) TRIẾT ĐÔNG VÀ TRIẾT TÂY

Nói một cách khác, nếu ở đích điểm Chân L‎ý không phân biệt Đông Tây, nhưng ít nhất ở khởi điểm, vì những l‎ý do nêu trên, triết học có Triết ĐÔNG và Triết TÂY nhằm diễn tả HAI Cách Sống, HAI Thái Độ Triết L‎ý, mà sự lựa chọn có thể dẫn tới HAI loại Hậu Quả hoàn toàn trái ngược nhau.

Một bên, Triết Học xuất hiện như một loại “tháp ngà tư tưởng” của giới Trí Thức trưởng giả “dư tiền dư bạc” muốn giải trí với “trò chơi chữ nghĩa”có tính cách “ vô thưởng vô phạt” là những hệ thống tư tưởng trừu tượng với những vấn đề được đặt ra một cách giả tạo, xa rời thực tế, không ăn nhằm gì nhiều đến “nhân sinh thế đạo”! Hoặc Triết Học còn được xem như một bộ môn chuyên biệt được dùng như “cần câu cơm”, hay như “cần câu công danh bổng lộc” của loại trí thức hàn lâm “nửa vời”!

Bên kia, trái lại Triết Học được vinh danh như “Bà Chúa của các Khoa Học”, được gán cho Sứ Mệnh Cao Cả là HƯỚNG DẪN ĐỜI SỐNG, là làm sống lại những Nguyên L‎‎ý hết sức phong phú có tính chất “Vượt Thời Gian, Vượt Không Gian” của nền Minh Triết Uyên Nguyên hay Truyền Thống Tâm Linh của Nhân Loại, sau đó dựa vào những Tiến Bộ về Biện Chứng và Khoa Học để khám phá ra những khía cạnh mới mẻ khả dĩ hướng đạo con người thời đại. 

III) SỨ MỆNH CỦA TRIẾT LÝ

Sứ Mệnh của Triết L‎‎ý phải chăng như Cố Triết Gia Kim Định đã nhận xét: “Tổng hợp những suy tư, những phân tích bất kể đến từ Đông hay Tây, Nam hay Bắc. Nhận thức lại cái Tinh Thần sâu sắc để khơi nguồn cho đời sống Tâm Linh vươn lên. Thống nhất lại các giá trị Mới hãy còn vất ngỗn ngang bừa bãi. Đem lại cho Nhân Sinh một nguồn Sinh Lực mới mẻ dồi dào. Thổi Sinh Khí vào Nhân Loại đang ngạt thở trong trăm ngõ hẻm chuyên môn phân cách và bịt bùng được thở bầu khí bao la khoáng đạt tinh thần của con người Toàn Diện”.(1)

“Tổng hợp những suy tư, những phân tích bất cứ đến từ Đông hay Tây, Bắc hay Nam”: đó có lẽ  là Phương Châm làm “Kim Chỉ Nam” cho suốt một đời nghiên cứu, tìm tòi, học hỏi của Cố Triết Gia trên hành trình đi tìm Chân L‎‎ý.

A) TRIẾT TÂY PHƯƠNG

Thật vậy, mặc dầu sinh ra là một người Việt Nam, nhưng môi trường suy tư, học hỏi đầu tiên của Ông không phải là triết học Đông Phương mà là triết học Tây Phương. Như Ông thường “tâm sự”, không một triết gia, tư tưỏng gia thế giá nào của Tây Phương mà   Ông không bỏ công ra nghiên cứu để xem có điều gì đáng học hỏi, tài bồi từ nội dung, thực chất của triết thuyết hay hệ tư tưởng liên hệ. Nhưng thông thường, các cuộc “thử nghiệm” tương tự chỉ kéo dài được một thời gian ngắn. Ở bước đầu, Tư Tưởng có thể còn giữ vẻ “hấp dẫn” do sự mới mẻ, nhưng càng về sau thì nó càng “lộ nguyên hình” tính chất Trùu Tượng, Duy Trí, Duy L‎ý……của nền triết lý Tây Phương, Tức là về phương diện  Hình Thức, l‎‎ý luận bên ngoài, thì triết thuyết Tây Phương có dáng dấp “nguy nga đồ sộ”, nhưng xét về Nội Dung, thực chất bên trong, thì thường thiếu chất sống cần thiết nuôi dưỡng đời sống Tâm Linh. Cụm từ sau đây có thể tóm tắt nét đặc trưng của nền Triết Tây là “Information mais non formation”: tức Triết Tây có thể hữu ích về phương diện trí thức, l‎ý luận, suy tư, phân tích, nhưng thường thiếu sót về mặt đường hướng, chất liệu nhân sinh cần thiết để huấn luyện thành một con người Toàn Diện. Tóm lại, Triết Tây KHÔNG đáp ứng được nhu cầu của Cố Triết  Gia về một Triết L‎ý có khả năng HƯỚNG DẪN ĐỜI SỐNG.

B) TRIẾT ẤN ĐỘ

Bước kế tiếp trên hành trình Tâm Linh của Ông là nền Triết L‎ý Ấn Độ. Vừa bước ra bầu khí HỮU VI của Triết TÂY đầy tranh chấp, mâu thuẫn, đối kháng, hành giả được bước vào bầu khí nhẹ nhàng, thanh thoát của cõi VÔ VI đồng nhất của miền Tiềm Thức, Vô Thức bao la của Triết ẤN. Ở đây ta gặp hai khuynh hướng:

1. Khuynh hướng thứ nhất thiên về Tôn Giáo theo lối “Khổ Tu Diệt Sinh” nhằm tiêu diệt Tiểu Ngã để đặt trọng tâm vào lãnh vực Linh Hồn.

2. Khuynh hướng thứ hai thiên về Triết L‎‎ý với một quan niệm trọn vẹn về Con Người và chủ trương đi trực tiếp từ Tiểu Ngã để đạt Đại Ngã.. Mà Tu Luyện là tài bồi, vươn tưới, tập trung nguồn sinh lực để nó lan tỏa ra mọi động tác đạt độ linh thiêng trọn vẹn. Áo Nghĩa Thư Upanisads là kết tinh của khuynh hướng thứ hai. mà đỉnh cao nhất là PHẬT GIÁO.

Chính vì óc can đảm nói thẳng Sự Thật chống lại các lạm dụng của phe Tăng Lữ Brahmana mà sau này Phật Giáo bị đẩy ra khỏi Ấn Độ. Nhưng tinh thần Upanisads vẫn còn lại trên đất Ấn dưới hình thức ôn hòa hơn nhằm thống nhất cả Tế Tự lẫ Triết L‎‎ý là VEDANTA, mà kết tinh của khuynh hướng giàn hòa này là Kinh Thần Ca (Bhavagad Gita)

Và đó là nền tảng của ẤN ĐỘ GIÁO, một nền Văn Hóa đầy mâu thuẫn trong Triết L‎ý cũng như ngoài Xã Hội. Ở đây, Triết L‎‎ý còn nặng tính chất “Độc Thiện Kỳ Thân” nên không thâm nhập được vào đời sống. Do đó, Triết có vươn cao mấy đi nữa thì bỏ thây kệ xã hội với những bất công trầm trọng như tệ nạn đẳng cấp và tục thiêu sống đàn bà góa ngay từ trong bản chất. (2)

C) HỮU HAY VÔ ?

Do đó, Triết ẤN KHÔNG đáp ứng được tiêu chuẩn TOÀN DIỆN TÍNH của Cố Triết Gia.

Đến đây, hành giả cảm thấy đắn đó, lưỡng lự, như bị đặt trước một vấn đề khó khăn, một bài toán nan giải, một sự lựa chọn giữa bên HỮU bên VÔ, bên NHẬP THẾ đến “ngập cổ”, bên XUẤT THẾ đến “lơ lửng từng mây”, bên xem cuộc đời như “trường tranh đấu bất tận”, bên xem cuộc sống như “thoáng ảo ảnh phù du”, mà chưa thấy đâu giải pháp thứ BA nhằm dung hòa hai đối cực.

Thật vậy, phải chờ đến tuổi Trung Niên “Tứ Thập Bất Hoặc”, vào lứa tuổi thường là “bước ngoặt của cuộc đời”, vào lứa tuổi mà theo Carl Jung thường xuất hiện những “Giấc Mơ Lớn”, mới bắt đầu ló dạng từ một vài câu chữ Nho thoạt trông có vẻ “lơ mơ”, “rời rạc”, một vài “Tia Sáng Mới” đem lại Sức Sống, sự Thống Nhất vào mớ kiến thức đồ sộ cho đến đây vẫn còn “ngổn ngang trăm mối”. Và có lẽ đây là bước khởi đầu của hành trình dài của Cố Triết Gia về với Văn Hóa DÂN TỘC.

Tóm lại, Triết TÂY cũng như Triết ẤN KHÔNG hội đủ các tiêu chuẩn TOÀN DIỆN

TÍNH và “Khả Năng Hướng Dẫn Đời Sống” của Cố Triết Gia.

D) CƠ CẤU UYÊN NGUYÊN

Có lẽ ở đây phải xuống tận bình diện Cơ Cấu UYÊN NGUYÊN để tìm hiểu nguyên do chính yếu của sự thiếu sót nêu trên.

Cơ Cấu là phương pháp nhìn bao trùm cánh đồng nghiên cứu để tìm ra cái dạng thức chung rồi đối chiếu với các dạng thức khác cho thêm rõ; lại dùng lược đồ số độ và chuyện tích để trình bày.

Cơ Cấu nêu trên phải có tính cách Uyên Nguyên , tức phải đi đến chỗ đầu tiên, đến chỗ tột cùng, hầu mang tính PHỔ BIẾN, nghĩa là Thực cho mọi nơi, mọi đời.. Vì phát sinh từ cái nhìn về vũ trụ và nhân sinh nên Cơ Cấu hay dạng thức chung nêu trên phải mang tính Bao Quát cũng như xuất hiện từ thuở Ban Đầu.

1) TỨ TỐ CỦA TÂY PHƯƠNG VÀ ẤN ĐỘ

Bây giờ chúng ta thử so sánh Cơ Cấu của Aristotle vì ảnh hưởng quyết định của nó trên nền Triết Tây cho đến tận ngày nay, và Cơ Cấu của Triết Ấn, với NGŨ HÀNH của Viễn Đông. Bảng Cơ Cấu của Aristotle tổng hợp được cả Tứ Tố : “khí, lửa, đất, nước” với các áp dụng khác như bốn đặc tính của Thời Tiết chẳng hạn “nóng, khô, lạnh, ấm”, mới xem qua có vẻ giàn hòa được Bất Động với Biến Hóa. Đấy là một cố gắng vượt ra khỏi giai đoạn Thần Thoại để đi lên giai đoạn L‎ý Trí. Tuy nhiên, so sánh Tứ Tố của Aristotle với Ngũ Hành của Dịch L‎ý thì ta sẽ thấy những dị biệt sau đây:

a. Thứ nhất, khác với Ngũ Hành, Tứ Tố thiếu sự Vuông Tròn lồng vào nhau: Tròn ở trên, Vuông ở dưới. “nóng, lạnh, khô, ấm” giao thoa theo đường thẳng tắp, chứ không tiến theo đường tròn. Do vậy chỉ có Vuông mà Không có Tròn.

b. Không có vòng Sinh vòng Khắc trái chiều nhau

c. Và nhất là Không có Vô Thể. Tuy Aristotle có thêm Ether là tố thứ Năm, nhưng cũng chỉ là một tố cùng bình diện hiện tượng và hữu hình như bốn tố kia, tức cũng là Hữu Thể. Chính vì Thiếu Vô Thể nên Không có Biến Động Uyên Nguyên giữa HỮU và VÔ. Vì vậy Tứ Tố KHÔNG là Cơ Cấu Uyên Nguyên.

Cái bảng Tứ Tố này về sau cũng được theo bên Ấn Độ như thấy trong phái Sankhya và nhấn mạnh đến TRÒN chỉ Vô Thể. Nếu kể Âu Tây là HŨU với Siêu Hình là Hữu Thể học (Ontology), thì bên Ấn là VÔ với Vô Nhị (Advaita), hai bên giống nhau ở chỗ TRÒN VUÔNG KHÔNG GIAO THOA. Vì thế có thể nói chung là cả hai đều mắc bệnh DUY: Tây Phương là Duy HỮU, Ấn Độ là Duy VÔ, mà hậu quả là cả hai THIẾU TOÀN DIỆN TÍNH với NỀN VĂN HÓA THIẾU  THỐNG NHẤT.

2) NGŨ HÀNH CỦA NHO GIÁO

Trái lại, THỐNG NHẤT là nét đặc trưng của NGŨ HÀNH Dịch L‎‎ý:

_ Điều thứ nhất và giống như tên gọi là có năm HÀNH: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa Thổ

_ Thứ hai là mỗi Hành đi với một Phương, một Số, một Màu……..tức có Thống Nhất ở mọi địa hạt, mọi tầng lớp.

_ Điều khác thứ ba rất căn bản là hành THỔ đại diện cho Vô Thể, tức KHÔNG có Mùa, có Phương riêng. Chính VÔ THỂ làm Ngũ Hành thành Cơ Cấu UYÊN NGUYÊN.

Chính do sự pha trộn này mà Ngũ Hành làm được việc mà bảng Tứ Tố không làm được là “cộng Tròn với Vuông”, tức giàn hòa giữa Vô và Hữu để đi đến bực cuối cùng của Trí Thức con người là trở nên Mẫu Mực có tính cách PHỔ BIẾN và BẤT KHẢ LI tức vững vàng muôn thuở và gọi là ĐẠO ( khả li phi thường Đạo)

Chính do chỗ này mà Nho được gọi là MINH TRIẾT khi hiểu Minh Triết như tài Hòa Hợp những cái “Thái Cực” như giữa Vô với Hữu sẽ được chứng tỏ trong các phát triển của Ngũ Hành: nào vòng Sinh vòng Khắc, Hà Đồ, Lạc Thư, nào Hồng Phạm, Cửu Trù, Minh Đường, Thái Thất….Và bao câu khác trong Nho cũng chỉ là bày tỏ sự khác biệt nền móng nọ, cũng như làm nảy sinh biết bao nét đặc trưng khác.

a) CHÍ TRUNG HÒA

Chẳng hạn như câu châm ngôn “Chí Trung Hòa” hay ba chân l‎ý gốc rễ đi với các con số 2,3,5. Về câu châm ngôn, chúng ta thường nghe “có chí Trung thì mới có chí Hòa”, tức “đường vào Nội Tâm” đạt được độ sâu càng nhỏ thì sức bao quát bên ngoài càng lớn, mà dấu hiệu cụ thể là “thiên địa vị yên, vạn vật dục yên”(= khi trời đất được xếp đặt đúng chỗ thì vạn vật đều được nuôi dưỡng). Hệ quả về mặt Tâm L‎ý là TRIẾT Không chỉ có Duy L‎ý, Duy Tình hay Duy Chí , mà tất cả các cơ năng L‎ý, Tình , Chí đều cùng tham dự vào đời sống Tâm Linh.

b) BỘ SỐ 2,3,5

Số 2 dùng để chỉ chiều kích BIẾN HÓA nằm ngầm trong vũ trụ vạn vật như phần bổ túc cho nét im lìm, độc khối của sự vật nghiên cứu từ bên ngoài. Làm nên mối Tương Quan nền tảng giữa hai Đối Cực: Âm-Dương, Thiên-Địa……

Số 3 như nét NHÂN CHỦ để chỉ con người Đại Ngã Tâm Linh có khả năng dung hòa được cả Có lẫn Không.

Số 5 như nét TÂM LINH trên hành trình đi về với hành Ngũ, tức hành Thổ, về với cái  KHÔNG chân thật làm nên mọi cái CÓ. 

PHẦN HAI

I) VIỆT NHO

A) CƠ CẤU

Bộ số 2,3,5 là ba con số nền tảng của Nho Giáo và Dịch L‎ý cũng như của Đạo VIỆT, vì ta thấy các số  này nhan nhản trong Văn Hóa Việt.

Ở phương diện KHẢO CỔ, về số 2, ta có thể thấy nét Giao Chỉ được biểu lộ bằng hai con giao long giao tay nhiều khi cả giao chân, nó sẽ dẫn đầu cho các lối hát có hai bè như ca l‎ý‎ liên hay trống quân, quan họ….Rồi tới những cặp đôi như sông núi, nước lửa, ông Cồ bà Cộc…….

Về số 3, có con “thiềm thừ” cóc trời chỉ có ba chân. Rồi lại gặp chim ba chân, cả chim ba mình nữa. Rồi tới những ấn tích thực xa xôi, như những cái chạc tìm được trong các mộ ở Phùng Nguyên bao giờ cũng thấy đi bộ ba.

Cuối cùng đến số 5, hậu quả của 2 + 3, ta cũng gặp lu bù như cái Lịch rất thời danh là tiền thân của cái Đỉnh bao giò cũng có 3 chân 2 tai., các bình đèn ở Đông Sơn cũng đều 3 chân 2 tai như vậy, hay năm hòn sỏi tìm được trong một mộ cổ ỏ Phùng Nguyên thì 3 hòn mài nhẵn, 2 hòn để thô…..

Ở lãnh vực HUYỀN SỬ, Việt Nam là dân tộc duy nhất trên thế giới chọn Vật  Biểu Kép là Tiên và Rồng nói lên LƯỠNG TÍNH (số 2) hay Hai Chiều sinh hóa của vũ trụ vạn vật, hay Nét Gấp Đôi kỳ diệu của Tính Thể.

NHÂN CHỦ Tính (số 3) với quan niệm chủ động Con Người như gạch nối giữa Trời và Đất  được đặt nổi ở Kinh Hùng trong truyện “Bánh Dầy Bánh Chưng” với Tiết Liệu dù bần cùng nghèo khó, nhưng nhờ nắm được lẽ Đạo Vuông Tròn tức Đạo Trời Đất nên được truyền ngôi Trị Nước.

Như đã nói ở trên, TÂM LINH (số 5) là con đường về với Vô Thể, được đăt nổi trong Huyền Sử Việt bằng Nghĩa Hành của Thánh Gióng với tinh thần Vô Công, Vô Danh và tấm lòng Vô Cầu. Còn hình ảnh nào đẹp hơn ngưòi  Chíến Sĩ An Vi của làng Phù Đổng sau khi đáng giặc cứu nước, và giặc tan thì bỏ tất cả mà ra đi.(3) 

B) ĐÁP SỐ CHO VẤN ĐỀ CỦA THỜI ĐẠI

Theo Cố Triết Gia Kim Định trong tác phẩm “Thái Bình Minh Triết”, căn bệnh chính yếu của con người thời đại là sự Thiếu Vắng của NGUYÊN LÝ MẸ, của Tính VÔ THỂ và của Nét GẤP ĐÔI. Mà Nguyên L‎ý Mẹ và nét Gấp Đôi lại tràn ngập trong thời đại Cổ Sơ của Nhân Loại : từ Chim Rắn, Vật Tổ của dân Lạc Việt lên Chim Rắn, Vật Biểu rồi thăng hoa lên Tiên Rồng. Từ Tiên Rồng thăng hoa lên Con Người là Mẹ Cha làm thành một trang Huyền Sử cao cả mà lại thực tế, hơn nữa  còn thắm thiết sâu xa: Tổ Mẫu Âu Cơ (âu là chim hải âu) đẻ ra cái bọc trăm trứng, rồi trứng nở ra trăm con.

Nền Văn Hóa Mẹ, với nét Lưỡng Diện này còn hiện diện khắp vùng Thái Bình Dương tới tận vùng Nam Mỹ với Thần Chim Rắn Quetzalcoatl ở Astec,Toltec (Mexico), và có thể cả Sumer, nguồn gốc của Văn Minh Lưỡng Hà, mà Sử Gia Will Durant cho là có liên hệ xa xăm với Mông Cổ, vì tục vắt áo tay tả, nhưng trên hết với sự hiện diện của một chuỗi Đại Mẫu như Sophia, Athena, Demeter (dạy Nông Nghiệp)…..

Phần trình bày trên có thể xác nhận định đề “Chân L‎ý không có quê hương” vì Nguyên L‎ý Mẹ mà các thức giả ngày nay nghĩ là thuốc chữa cho các căn bệnh của thời đại, lại hiện diện khắp nơi trên mặt đất ở thời cổ xưa.

Nhưng với những khám phá mới nhất của khoa Khảo Cổ chủ trương Nhân Loại phát xuất từ Đông Nam Á, thì hầu như chắc chắc là nền văn hóa Nông Nghiệp với Nguyên L‎ý Mẹ đã bắt nguồn từ Đông Nam Á, rồi tỏa ra toàn vùng Thái Bình Dương, và lan ra khắp vùng trái đất. Do đó hai Vật Biểu Chim Rắn Quetzalcoatl ở Astec, Toltec (Mexico) dẫn đầu các dấu khác chỉ tỏ người Bản Thổ Mỹ Châu tự Alaska xuống tận Peru  cùng thuộc Đại Tộc Việt, với các dấu khác như đeo lông chim khi múa, thờ cúng Tổ Tiên, tôn kính yêu mến Mẹ ( dấu chỉ Nguyên L‎ý Mẹ vẫn được duy trì bền bỉ.

Tóm lại, kết luận được rút tỉa từ phần trình bày trên đây là Cơ Cấu Uyên Nguyên của Việt Nho được công thức hóa thành Ngũ Hành của Dịch L‎ý với Hành Thổ có lẽ là lời Giải Đáp cho các vấn đề của con người hôm nay. L‎ý do là HÀNH THỔ với câu tuyên ngôn quen nói “Trung hòa cực thịnh hồ Ngũ” và được vua L‎‎ý Nhân Tông gọi là “Hành Thổ Phu Nhân” vì THỔ đại diện Nguyên L‎ý Mẹ là cái làm cho Văn Hóa VIỆT trường tồn miên viễn. Học Giả Paul Mus cũng nói Việt Nam không bị Tầu đồng hóa là nhờ Lễ Gia Tiên và Thổ Thần. Thổ Thần đây là HÀNH THỔ đại diện cho VÔ THỂ để lập thế Quân Bình với Hữu Thể.(4) 

II) BÌNH SẢN VÀ XÃ HỘI HẬU CÔNG NGHỆ

A) DẪN NHẬP

Nếu Hành Thổ của Ngũ Hành giúp giải quyết vấn đề Triết L‎‎ý, Siêu Hình, thì cũng chính Hành Thổ giúp cung cấp phương tiện đem Đạo vào Đời. Thật vậy, Ngũ Hành với Hành Thổ đặt nền móng cho phép Tỉnh Điền là nguồn gốc cho nền Kinh Tế BÌNH SẢN của Tổ Tiên Việt Tộc có khả năng sửa soạn cho Xã Hội HẬU CÔNG NGHỆ mà con người hằng mơ ước, nhằm giúp con người đạt được CHÂN HẠNH PHÚC và thực hiện nền HOÀ BÌNH Thế Giới.

Tuy nhiên, với hiện trạng Việt Nam mới chập chững bước vào giai đoạn đầu tiên của tiến trình Phát Triển, mà có người đề cập đến một nước “Việt Nam Hậu Công Nghệ” thì quá sớm lắm chăng? Với trình độ Kỹ Thuật nói chung của con người ngày nay, nếu có chính sách tốt thì ta có thể rút ngắn rất nhiều các giai đoạn phát triển trung gian. Ngoài ra, trong vấn đề này, Phong Thái Tinh Thần quan trọng hơn Phương Tiện Vật Chất, nên không ai cấm ta suy nghĩ về Phương Án trước khi áp dụng vào thực tế giấc mộng đẹp này. L‎ý‎ do cuối cùng là đó phải là Cứu Cánh, mục tiêu mà toàn thể nhân loại hướng tới hầu xứng đáng với vai trò “Làm Người” (Vi Nhân) của mình. Vì như thuyết Tam Tài chủ trương “Thiên Địa Nhân Đồng Nhất Thể”: Trời là “Vua”, Đất là “Vua”, thì Người cũng là Vua”. Và muốn làm Vua của Vạn Vật thì Con Người phải có cốt cách PHONG LƯU là điều con người có thể đạt được trong xã hội Hậu Công Nghệ.

Vậy Phong Lưu là gì? Theo nghĩa thông thường, Phong Lưu giống như “ăn chơi”, chỉ những người khỏi bận tâm về việc lo ăn lo mặc, nên có thể ngao du nay đây mai đó. Theo nghĩa sâu xa của triết l‎ý An Vi, PHONG LƯU là tâm trạng của con người biết sống hòa đồng với vũ trụ, an nhiên thảnh thơi như luồng gió thổi (phong), như lượn sóng trào (lưu), không bận tâm chi cả, toàn thể vũ trụ là Nhà mình, hơn nữa là TÂM mình: “vũ trụ tiện thị ngô tâm”. Đó là tâm trạng của những người đã hiện thực được chiều kích Đai Ngã Tâm Linh, lúc ấy việc đủ ăn đủ mậc đến với mình như hệ quả vì “nhân biết hòa” thì “thiên tất sinh”,“địa tất dưỡng”(5)

Câu hỏi được đặt ra ở đây là :

_ Ta có thể học hỏi được gì từ kinh nghiệm của người xưa cho việc xây đắp xã hội Hậu Công Nghệ?

_ Thứ hai, tại sao các nước hùng mạnh như Tây Phương ngày nay lại chưa sẵn sàng cho loại xã hội này?

_ Và chót hết, thử xác định các yếu tố cần thiết cho sự ra đời của xã hội Hậu Công Nghệ?  

B) BÀI HỌC CỦA TỔ TIÊN LẠC VIỆT

Về câu hỏi là ta có thể học hỏi được gì từ người xưa, thì theo l‎‎ý thuyết Văn Minh mới nhất, Tổ Tiên Việt Tộc đã khai sáng và Đông Nam Á là cái Nôi của Văn Minh Nhân Loại. Vì vào thời kỳ đó, chưa có áp lực dân số nặng nề như ngày nay, nên ta có thể suy luận là có lẽ các Ngài đã giải quyết vấn đề ăn làm mưu sinh. Ngoài ra, vì Bách Việt vào định cư ở đất Tầu trước Hoa Tộc, và như hệ quả là tác giả đầu tiên của Minh Triết THÁI HÒA của Văn Hóa DỊCH LÝ Siêu Đẳng, nên các Ngài cũng đem lại Thái Bình An Lạc cho toàn dân.

Quả là “Eden in the East” (= Địa Đàng ở Phương Đông) như còn được khắc ghi trên mặt Trống Đồng với hình người trong cốt cách Phong Lưu tiêu sái, sống cuộc đời ung dung tự tại trong cảnh phong nhiêu dư dật. Quả thật, Tiền Nhân ta đã thực hiện được tinh thần Hậu Công Nghệ rất lâu trước khi cụm từ này xuất hiện.

Về sau, dẫu vai trò lãnh đạo Văn Minh đã được chuyển qua các dân tộc khác, nhưng hậu duệ của các Ngài vẫn cố gắng duy trì trong mức độ khả thi, tinh thần Phong Lưu tiêu sái đó, Bí quyết của việc hiện thực này nằm trong hai chữ TRI TÚC.

Thật vậy, có Tri Túc thì chính quyền mới đủ can đảm hiện thực chế độ QUÂN PHÂN TÀI SẢN để đáp ứng nhu cầu đầu tiên của mọi người là ăn. Cốt cách Phong Lưu với việc tổ chức hội hè đình đám chỉ xuất hiện ở nơi nào có đủ ăn đủ mặc.

Còn về phương diện Tư Nhân, có biết đủ thì người ta mới bỏ thì giờ ra hưởng nhàn, bỏ công của ra mà vui chơi với nhau. Có biết đủ thì người giàu mới sẵn sàng bỏ tiền của ra cho đình đám hội hè để mọi người cùng hưởng. Triết l‎ý Phong Lưu đã được thực hiện trong môi trường Làng Xã Việt Nam từ thời lập quốc cho tới gần đây. 

C) BÀI HỌC CỘNG SẢN

Qua trào Cộng Sản, vì chủ trương Lao Động cực đoan của học thuyết Mác-Xít, con người bị xem như công cụ sản xuất của nhà nước nên bị khai thác triệt để. Nhưng Cộng Sản là một lý thuyết chính trị phản tâm lý, vì quyền Tư Hữu của người dân bị chối bỏ và mọi sự đươc xem là “của chung” (chỉ trên nguyên tắc nhưng .đó là một vấn đề khác). Nhưng vì thông thường không ai dại gì bỏ hết tâm huyết vào cái gọi là “của chung” nên có lẽ đó là một nguyên nhân chính yếu gây ra sự thất bại của chủ nghĩa Cộng Sản.Hậu quả là với Cộng Sản, không những số lượng của cải vật chất không đạt được như ‎ nguyện, mà thì giờ nhàn rỗi và cuộc sống tinh thần cũng bị hy sinh luôn Do đó, l‎ý thuyết Mác Xít là một bước thụt lùi, trụt hậu cản trở sự tiến đến một xã hội Hậu Công Nghệ l‎ý tưởng!

D) BÀI HỌC TƯ BẢN

Còn với xã hội Tư Bản thì sao? Tại đây, cách đây khoảng 30 năm về trước, các nhà Tương Lai học tiên đoán là vào những năm đầu tiên của thế kỷ 21, con ngưòi sẽ gặp phải một vấn đề nghiêm trọng là làm sao cho hết thì giờ nhàn rỗi có được do sự tiến bộ vượt bực của Khoa Học Kỹ Thuật. Chúng ta đang sống những năm đầu của thế kỷ 21 và trên thực tế tình trạng trái ngược đã xảy ra. Tại Úc chẳng hạn:

_ Chỉ 7% dân Úc làm việc với thời khóa biểu bắt đầu 9 giờ sáng và chấm dứt 5 giờ chiều

_ 25% dành ít nhất một phần thời gian cuối tuần cho công việc ở công sở

_ Tỷ lệ dân Úc làm việc 35 đén 40 giờ mỗi tuần đã giảm từ ½ xuống còn ít hơn 1/3 trong vòng 20 năm

_ Và càng ngày những người làm việc toàn thời gian phải làm nhiều giờ hơn.

Trên đây là sơ lược một ít điểm về những thay đổi lớn lao trong đời sống lao động ở Úc khiến đa số trở nên bực bội, bất mãn với sinh hoạt làm ăn của họ. Clive Hamilton, Tiến Sĩ Kinh Tế, cho rằng nếu thành phần thợ có tay nghề yếu bị bó buộc làm việc nhiều hơn để có đủ tiền sinh sống, thì đa số thành phần khác làm nhiều vì họ muốn làm nhiều, chứ không bị bó buộc về phương diện sinh kế. Nhưng họ bị bó buộc về phía xã hội, vì nhu cầu tiếng tăm thế giá phải có nhiều tiền hơn, có căn nhà rộng lớn hơn, chiếc xe thứ hai lộng lẫy, “láng coóng” hơn, và tất cả các thứ khác cần thiết để đươc tiếng là thuộc lớp người thành công. Có điều mỉa mai là một khi họ đạt đươc nhũng thứ kể trên rồi, họ vẫn chưa thấy hài lòng, thỏa mãn.

Nếu loại ra trường hợp của khoảng 10 đến 20% số người ở bậc cuối cùng của mức thang xã hội, nguyên ủy của vấn đề không bắt nguồn tù sự nghèo túng, mà là từ sự sung túc. Vì họ lẫn lộn ‎ ‎ý niệm “nhu cầu sinh sống” với “lòng ham muốn” nên họ làm khổ bản thân của họ về những gì họ chưa có. Cái vòng luẩn quẩn của tình trạng “lòng ham muốn gia tăng” kéo theo sự kiện “phải làm nhiều hơn” để có đủ tiền trang trải các đối tượng của sự ham muốn, khiến họ bỏ qua và không còn chú ‎ý đến những điều có thể đem lại hạnh phúc thực sự mà không tốn tiền.

Nguyên ủy theo Ts Hamilton, là chúng ta bị nhồi sọ một cách thường trực bởi giới quảng cáo, truyền thông, các nhà kinh tế duy l‎ý của phe Tân bảo thủ, của cả hai phe Tả Hữu của giới chính trị, và bởi cả của chính chúng ta là sự giàu sang là chìa khóa vạn năng dẫn đến hạnh phúc”. Một thiểu số ‎ý thức được tình trạng trên đã tìm cách giảm bớt giờ làm việc, lợi tức, chi tiêu hầu có cuộc sống quân bình hơn.

Qua tác phẩm “Growth Fetish”, Ts Hamilton đề nghị một khuôn mẫu chính trị, kinh tế mới cho xã hội Hậu Tăng Trưởng (post growth society), mà mức tăng trưởng bị giảm xuống từ 4% trung bình hiện nay xuống còn 2% hay 0%. Hamilton cho rằng sự giảm giờ làm việc là điều kiện nồng cốt để tiến tới một xã hội “hậu tăng trưởng”. Theo ông, trong xã hội Tây Phương hiện nay, nếu dùng 2% sự gia tăng hiệu năng để giảm giờ làm việc thay vì gia tăng lợi tức, thì trong vòng 10 đến 15 năm, số giờ làm việc mỗi tuần có thể giảm xuống còn 30 giờ, và trong vòng 50 năm, có thể chỉ còn 15 giờ mỗi tuần.

Nhưng để có thể làm ít giờ, chúng ta phải giảm bớt lòng ham muốn tiêu thụ bằng cách cắt giảm các chương trình quảng cáo kêu gọi chúng ta phải gia tăng nhu cầu. Chế độ Tư Bản tiêu thụ ngày nay sẽ tiếp tục nẩy nở ngày nào số lượng của cải mà người dân ham muốn vượt qua sự sở hữu hiện tại của họ.

Do đó, theo Ts Hamilton, sự chuyển tiếp qua một xã hội “hậu tăng trưởng” phải bắt đầu bằng việc giới hạn số lượng và nội dung của các chương trình quảng cáo như cấm quảng cáo ở các nơi công cộng, giới hạn thời gian quảng cáo trên hệ thống truyền hình và truyền thanh, cấm quảng cáo trong khoảng thời gian 6giờ đến 8giờ tối là giờ dành cho gia đình.Biện pháp được đề nghị về phương diện thuế má là cấm khấu trừ tiền quảng cáo như chi phí thương mại chẳng hạn.(6) 

E) SỬA SOẠN CHO XÃ HỘI HẬU CÔNG NGHỆ

Tóm lại, để sửa soạn cho một xã hội Hậu Công Nghệ, đối với các quốc gia đã phát triển đúng mức rồi, giải pháp là khuyến khích dân chúng giảm bớt tiêu thụ, nhất là đối với các sản phẩm xa xỉ hầu giúp họ giảm thiểu lòng “tham dục”, cũng như tránh bớt gánh nặng cho thiên nhiên.

Còn đối với các quốc gia mới phát triển như Việt Nam, thì đường hướng là nhắm ưu tiên vào việc sản xuất những nhu yếu phẩm hơn là xa xỉ phẩm, đặt mục tiêu phát triển dài hạn trên mục tiêu ngắn hạn, cũng như phát triển trong mức độ mà môi trường sinh thái có thể chịu đựng được và không ăn thâm vào gia tài thiên nhiên của các thế hệ sau.

Và một cách tổng quát, hoạch định chính sách nhằm giảm thiểu sự chênh lệch trong xã hội, cũng như giữa các quốc gia, chủng tộc bằng chính sách QUÂN PHÂN TÀI SẢN để càng ngày càng có nhiều người đủ ăn đủ mặc mà mục tiêu l‎ý tưởng là “một ngày nào đó mọi người đủ ăn đủ mặc”. Lẽ dĩ nhiên, phải tiến hành song song chính sách kiểm soát mức gia tăng dân số của toàn thế giới.

Nhưng trên hết là phải đặt nặng vai trò của VĂN HÓA GIÁO DỤC. Một nền văn hóa giáo dục chân chính phải hiểu rõ bản chất, nhu cầu, hạnh phúc đích thực của con người. Phải chăng CHÂN HẠNH PHÚC chỉ có thể đạt được khi con người biết quân bình các nhu cầu tinh thần và vật chất như theo công thức của Dịch L‎ý mà dung lượng l‎ý tưởng theo khung Ngũ Hành KHÔNG phải “4-1” vì  như vậy là “Duy Tâm Không Tưởng”, cũng KHÔNG phải “1-4” vì như vậy là “Duy Vật Hẹp Hòi”, MÀ là “3-2” tức NHÂN BẢN ĐÍCH THỰC với yếu tố TINH THẦN (được tượng trưng bằng số 3) được đặt nổi lên trên yếu tố  VẬT CHẤT(được tượng trưng bằng số 2). Có hiểu bản chất, nhu cầu của con người mới giúp con người đạt HẠNH PHÚC.

Tóm lại, Tư Bản lẫn Cộng Sản đều thất bại trong dự án đem lại HẠNH PHÚC Chân Thực cho người dân nhằm sửa soạn bước vào giai đoạn Hậu Công Nghệ với nhiều nguyên nhân khác nhau như vừa được trình bày ở trên. Nhưng có một nguyên nhân chung cho cả hai là sự ngự trị trong xã hội Tư Bản và Cộng Sản của tinh thần DU MỤC với các đặc tính như sau: bóc lột tha nhân, khai thác thiên nhiên một cách vô trách nhiệm, đề cao vật chất trên tinh thần, l‎ý trí tính toán trên tình người, ganh đua chiếm hữu trên cộng tác hài hòa, xem tha nhân như thù địch thay vì lân nhân đồng loại…..Bầu khí chia rẽ, nghi kỵ, chiến tranh, khủng bố, bạo động đang bao trùm thế giới hôm nay là chứng từ hùng hồn cho nhận xét nêu trên.

Chỉ cần lật ngược nhận xét trên đây thì tinh thần NÔNG NGHIỆP xuất hiện với các nét đặc trưng sau đây: tôn trọng tha nhân, xem Thiên Nhiên như bà Mẹ Hiền cưu mang đàn con dại, đề cao tinh thần trên vật chất, tình người trên l‎ý trí tính toán, cộng tác hài hòa trên sự ganh đua chiếm đoạt, xem tha nhân như lân nhân, đồng loại thay vì thù địch…..

Sự lật ngược bảng giá trị trên đây là điều kiện cần thiết để có một nền DÂN CHỦ NHÂN BẢN thực sự phục vụ con người, hầu sửa soạn tinh thần PHONG LƯU Tiêu Sái để bước vào kỷ nguyên HẬU CÔNG NGHỆ, Chấm Dứt giai đoạn Sử Chiến Tranh hầu mở ra Trang Đầu Tiên của SỬ HÒA BÌNH HẠNH PHÚC cho Nhân Loại.

Chìa khóa cho sự chuyển hóa Tư Duy nêu trên là Triết L‎‎ý TRI TÚC và Thể Chế BÌNH SẢN của Tổ Tiên Lạc Việt.

Nhằm thực hiện l‎‎ý tưởng trên, hơn bao giờ hết chúng ta cần những bàn tay xây dựng của những VĂN HIẾN là những người biết hi hiến thân tâm cho Văn Hóa và Đạo L‎‎ý NGŨ HÀNH. Mà gốc rễ  Ngũ Hành cũng chính là Cơ Cấu TIÊN RỒNG của VIỆT ĐẠO. 

Lê Việt Thường

CHÚ THÍCH

1. Kim Định, “Những Dị Biệt Giữa Hai Nền Triết L‎ý Đông Tây”, Ra Khơi, SàiGòn, VN, 1969, tr.36-37

2. Kim Định, “Nhân Chủ” An Việt Houston, TX, USA, 1988, tr.77-87

3. Kim Định, “Việt Triết Nhập Môn”, An Việt Houston,TX, USA, 1988, tr.48-57

4. Kim Định, “Thái Bình Minh Triết”, Thời Điểm, CA, USA, 1997

5. Kim Định, “Phong Thái An Vi”, An Việt Houston, TX, USA, 2000, 116-117

6. Clive Hamilton, “Growth Fetish”, Allen & Unwin, NSW, Australia, 2003