Ba Cay Truc

  • Tăng kích thước chữ
  • Kích thước chữ mặc định
  • Giảm kích thước chữ
Chào Mừng Bạn Đến Với Trang Báo Điện Tử­ Ba Cây Trúc **** Mọi bài vở và thư từ xin gởi về bacaytruc@gmail.com**** Có hiểu mới biết thương, có thương thì mới trọng, có trọng thì mới biết giữ gìn ****

Trả lời Trần Hùng Văn, tức Việt Thường (Bài 2)

Email In

Lời Phan Văn Châu, người chuyển bài:- Theo tôi, bà Hàn Giang Trần Lệ Tuyền nên tập trung những tài liệu vu không do tên Việt Thường Trần Hùng Văn bịa ra để chụp mủ bà. Tại Hoa Kỳ pháp luật không để cho bất cứ ai có quyền vu khống làm mất danh dự kẻ khác. Những vụ kiện tương tự đã xẩy ra giữa người Việt và đã được pháp luật Hoa kỳ lưu ý. Nhưng trên thực tế các bài viết đó không bao giờ ký tên Trần Hùng Văn tức Việt Thường, vì vậy chẳng ai biết Việt Thường ở đâu, danh tánh diện mạo ra sao, và đang làm gì. Do đó, nếu bà muốn cạy răng Việt Thường Trần Hùng Văn thì chi có cách nhờ vào pháp luật Hoa kỳ truy nguyên nguồn xuất xứ các bài nhục mạ bà. Cho đến ngày hôm nay, như mọi người đều biết các bài viết vu khống và ăn nói tục tỉu đối với bà là do ông Josehp Phạm Chủ din đàn Chính Khí Việt tại Seattles (Hoa Kỳ) đăng tài và chuyển rộng trên các diễn đàn Internet. Vậy ông Joseph Phạm là người chịu trách nhiệm trực tiếp. Đệ đơn kiện ông Joseph Phạm chủ diễn đàn Chính Khí Việt là thượng sách, vì ông Joseph Phạm là người có thật, có địa chỉ thật, có cơ sở làm ăn thật, chứ không phải là ma quỷ.(PVC).

 

Trả lời Trần Hùng Văn,

tức Việt Thường

- Bài 2 -

 

 

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

 

 

Như đã thưa cùng quý độc giả qua bài: Trả lời Trần Hùng Văn, tức Việt Thường (Bài 1): đáng lẽ ra tôi không cần trả lời cho Trần Hùng Văn; bởi vì trước 30/4/1975, Trần Hùng Văn ở một nước Cộng sản “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa”. Còn tôi, được sinh trưởng tại nước Việt Nam Cộng Hòa, tôi không hề biết mặt của Trần Hùng Văn.

Thế nhưng, mặc dù bằng chữ nhẫn, suốt ba năm qua tôi đã im lặng; nhưng càng  ngày Trần Hùng Văn  càng bịa đặt thêm những câu chuyện mà không hề dính dáng với tôi, kể cả chuyện đời tư, để bêu riếu, bôi nhọ chúng tôi. Vì thế, buộc lòng tôi phải viết lên những chuyện riêng tư của mình, với mục đích chính, là để cho quý độc giả biết về những hành vi của Trần Hùng Văn, tức Việt Thường. Và như đã thưa cùng quý vị: chúng tôi chỉ lên tiếng một lần, chỉ một lần thôi, rồi sẽ không bao giờ trả lời Trần Hùng Văn nữa.

Và sau bài viết đầu tiên (Bài 1), thì riêng tôi đã nhận được nhiều email của quý vị cao niên, trong số đó, có vị là Cựu Tù Nhân Chính Trị Quảng Nam -  Đà Nẵng, có vị đã khiến cho tôi vô cùng cảm động  khi viết những dòng này. Xin phép anh HN  để trích một đoạn ngắn như sau:

“…Tôi đọc bài viết của chị “Trả lời Trần Hùng Văn”  mà nghe lòng mình bồi hồi nhớ lại những năm tháng trong nhà tù CS. Những điều chị viết qủa thực từ trái tim mình, những giọt máu khổ đau đã rỉ ra qua ngòi bút. Như chị đã viết “chỉ một lần nầy rồi thôi”. Vâng, một lần là đủ rồi chị ạ…”

Kính thưa quý vị,

Khi phải viết ra một phần nhỏ của những đau thương ngãy cũ, mà quý vị đã biết, là những vết thương không bao giờ nguyên lành được, làm sao tôi không nhớ, không đau xót, vì tôi không bao giờ quên những cảnh ngộ mà tôi phải gánh chịu trong suốt những tháng năm dài ấy! Nhưng tôi tự thấy là một việc phải làm, buộc lòng phải làm. Chúng tôi xin ghi nhận lời của anh HN viết:

“… Những điều chị viết qủa thực từ trái tim mình, những giọt máu khổ đau đã rỉ ra qua ngòi bút. Như chị đã viết chỉ một lần nầy rồi thôi. Vâng, một lần là đủ rồi chị ạ…”

Vâng! Thưa anh HN,  xin chân thành cám ơn anh: chỉ “một lần là đủ”. Tôi sẽ không bao giờ viết nữa, để cho quá khứ trôi vào quên lãng!

Những ngày tháng cơ cực trước khi rời đất nước:

Rời căn nhà của gia đình, khi mới ra khỏi tù “cải tạo”, bước đầu tiên, là tôi phải làm nghề may thuê, tới buôn bán áo quần (cũ nhiều hơn mới) ở chợ trời, Đà Nẵng. Sau cùng, được người bạn gái cũ, có gia đình bên chồng ở ngoại quốc, thường hay gửi thuốc Tây về cho cô bán. Vì thông cảm với cảnh ngộ của tôi, nên cô bạn đã giúp đỡ bằng cánh mỗi ngày cho tôi lấy thuốc Tây của cô đi bán, nếu thiếu tiền, thì sau khi bán mới trả lại tiền vốn.

Kể từ đó, tôi mới có đủ tiền để mua cây gỗ, tranh để cất nhà ở. Sau khi có nhà rồi, tôi bán thuốc Tây tại nhà, cho đến khi được bà Bé giao cho những việc phải làm để được cùng đi vượt biển như: tôi phải lo lương thực, đủ loại huốc Tây, dầu, nước, hải bàn và phụ tùng máy cho chiếc thuyền. Và tôi đã lo hết những việc này.

Nhắc lại những điều này, nhân đây, tôi xin phép quý độc giả để được nói riêng với người Dì của tôi, đang còn ở tại Việt Nam:

Con xin thành kính cám ơn Dì. Dì là người đã giúp đỡ cho con mượn vàng, để đóng góp vào chuyến đi. Giờ đây, Dì còn ở lại quê nhà. Xin Dì hãy nhận nơi đây với những lời tâm thành này: Con không bao giờ quên ơn của Dì và em Thanh Hương.

Người thứ hai, tôi muốn nhắc đến, là ông bà Chung Phước Thành. Tôi xin cám ơn về sự tin tưởng vào tôi của ông bà, nên ông bà đã đồng ý góp một số vàng lớn hơn hết vào chuyến vượt biển. Ngoài ra, tôi không bao giờ quên lời của ông Chung Phước Thành đã nói trước mặt con trai bà chủ thuyền:

“Tôi nói trước với anh, là nếu xuống bến mà không có chị Tuyền, là gia đình tôi không lên tầu đâu”.

Tôi hiểu được, sở dĩ, ông Chung Phước Thành nói câu ấy; bởi vì ông ngại bị lừa, sợ chủ thuyền chỉ nhờ tôi nói chuyện với ông bà xong, thì sẽ tìm cách bỏ tôi ở lại, rồi thay thế những người thân của họ, để thâu thêm vàng bỏ túi riêng.

Nhưng tôi biết chắc bà chủ thuyền không làm điều đó được, dù bà ấy rất muốn như vậy. Bởi tất cả những thứ cần thiết như thuốc Tây, phụ tùng máy tầu, tôi đều giữ trong xách riêng của tôi, tôi chỉ trao cho tài công khi đã lên thuyền. Mặt khác, tôi và ông bà Chung Phước Thành  đã giao kết với bà chủ thuyền: chỉ sau khi chúng tôi tới Hong Kong an toàn rồi, thì ở nhà người thân của ông Chung Phước Thành mới giao số vàng ấy cho những người ở lại… chứ không đưa vàng cho mẹ con bà chủ thuyền.

Trở lại những tháng ngày cơ cực, buôn bán chợ trời của năm xưa, tôi bỗng nhớ lại những lời thơ của nhà văn kỳ cựu Hoàng Hải Thủy đã “tả cảnh” của một trong những chợ trời như  những dòng dưới đây:

“Xem đồ ta, ngắm đồ người cho vui

Tìm vui chỉ thấy ngậm ngùi

Vỉa hè này những khóc cười bầy ra

Lạc loài áo gấm, quần hoa

Này trong khuê các, sao mà đến đây?!”

Vì sao tôi không xin tỵ nạn Cộng sản tại Hoa Kỳ:

Nhân đây, tôi cũng xin trình bày cùng quý vị những nguyên nhân đã khiến tôi phải từ chối không xin tỵ nạn Cộng sản tại  Hoa Kỳ, đó cũng là một quyết định đã làm cho tôi không được sống gần những người thân của mình!

Và đây là nguyên do đã khiến cho tôi phải quyết định như vậy:

Cách đây 27 (hai mươi bảy) năm, trước khi rời Quê Hương, tôi đã vì lòng thương người (không đúng chỗ), khi TĐS thú thật với tôi là ông ấy có đứa con gái riêng, trong thời gian sống chung với một người đàn bà, không hôn thú; và ông ta đã đưa đứa con gái ấy đến gặp tôi.

Và chỉ trong lần đầu tiên gặp mặt, tôi đã động lòng thương một cô gái 19 tuổi, với đôi tay khô gầy, nhăn nheo, gân guốc, vì nghèo, nên hàng ngày phải đi bán mắm, cá. Tôi thương cho đôi bàn tay con gái, vì tôi thấy ngay đôi tay của mình đã từng lao động cực nhọc, cấy, gặt, đốn củi… trong nhà tù “cải tạo” của Việt cộng, nhưng vẫn không hề giống như bàn tay của cô gái này. Vì thế, tôi đã nhận cô ta làm con nuôi, và đồng ý cho cô ta đi theo trong chuyến vượt biển này, để mong cho cô thoát khỏi cảnh nghèo.

Nhưng cổ nhân đã dạy:

“Dưỡng vật, vật đền ơn; Dưỡng nhơn, nhơn báo oán”.

Quả đúng như vậy, vì những ngày tháng trước khi vượt biển, tôi đã chấp nhận cho cô ta tới nhà, ăn uống xong rồi đi chơi, còn chén bát tôi phải tự dọn rửa. Nhưng chưa đủ, những người thân của cô ta đã lợi dùng lòng thương người dại dột của tôi, để chẳng những đã ăn bám vào tôi, mà còn kéo đôi ba người đến một cái quán ăn ở chợ Hàn, để cùng nhau ăn, ăn xong, họ không trả tiền, rồi  bảo bà chủ quán: “bà hãy ghi tên của cô Tuyền vào sổ nợ, thì cô Tuyền sẽ trả tiền”.

Sau nhiều lần, tôi phải bỏ tiền túi ra để trả tiền “ăn chịu” cho những người này, nên tôi phải nói cho bà chủ quán biết, là tôi không thể trả được những số tiền ăn như vậy, và yêu cầu bà không cho họ ghi tên “ăn chịu” như thế nữa.

Phần cô gái mà tôi đã nhận làm con nuôi, khi đến nhập trại Hong Kong, từ lúc đầu cho tới khi tiếp kiến Lãnh Sự và Phái đoàn Hoa Kỳ, tôi đều cho phép cô ở chung với tư cách là con trong gia đình của tôi, để cùng sang tỵ nạn Cộng sản tại Hoa Kỳ.

Thế nhưng, tôi không lường trước được lòng dạ tệ bạc, vong ân, bội nghĩa của cô gái kia. Đó là sau khi chúng tôi được Lãnh Sự và Phái đoàn Hoa Kỳ chấp thuận cho sang Hoa Kỳ, thì bất ngờ, cô gái kia đã lên văn phòng Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc tại Hong Kong và nói rằng:

“Tôi không có liên hệ gì với bà Trần Lệ Tuyền, tôi chỉ đi chung với bà một thuyền. Tôi là con ruột của ông Trần đăng Sơn, còn mẹ tôi còn ở Việt Nam, xin cho tôi khai lại”.

Sau đó, Văn Phòng Cao Ủy Tỵ Nạn đã gọi tôi lên, và trao cho tôi những lời khai của cô ta. Và sau khi đọc xong, tôi đã trình bày với Văn phòng Cao Ủy Tỵ Nạn rằng: Đúng như vậy, cô ta không phải là con của tôi, mà tôi chỉ nhận cô ta làm con nuôi thôi. Nhưng cô ta nhất định không chịu, mà cô đòi Văn Phòng cao Ủy Tỵ Nạn rằng: “phải tách riêng cho tôi và ba tôi là ông TĐS thành  một gia đình riêng”.

Thấy sự đòi hỏi của cô ta như vậy, nên văn Phòng cao Ủy Tỵ Nạn đã cho cô ta một thời gian trong vòng sáu tháng phải gửi thư về Việt Nam, bảo mẹ cô phải gửi sang cho một tờ hôn thú của cha mẹ cô và một giấy khai sinh của cô có ghi tên cha là Trần đăng Sơn, để họ giải quyết.

Nhưng qua sáu tháng, qua nhiều lần gửi thư về Việt Nam, nhưng gia đình của cô ta vẫn không làm sao có được một tờ hôn thú và giấy khai sinh như  yêu cầu của Văn Phòng Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc. Vì thế, họ đã quyết định cho tách cô ta ra khỏi hồ sơ định cự tại Mỹ của gia đình của tôi.

Đến nước này, thì cô ta mới biết là đã làm sai, nên cô ta đã nhờ Văn Phòng Cao Ủy Tỵ Nạn giúp đỡ, bằng cách nói với tôi cho phép cô được trở lại làm con nuôi của tôi, để được cùng lên đường sang Hoa Kỳ. Và văn Phòng Cao Ủy Tỵ Nạn cũng đã khuyên với tôi là cũng nên làm như vậy, để khỏi phải làm lại hồ sơ, để sớm đi định cư tại Mỹ. Nhưng tôi đã từ chối, và yêu cầu Văn Phòng Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc tại Hong Kong hãy chuyển hồ sơ của tôi sang Lãnh Sự Pháp tại Hong Kong. Vì vào thời điểm ấy, ở Hong Kong, bất kể người nào, nếu muốn ghi tên xin tỵ nạn Cộng sản tại Pháp, đều rất dễ dàng và nhanh chóng. Khi nghe tôi trình bày như vậy, thì Văn Phòng Cao Ủy Tỵ Nạn đã yêu cầu tôi như sau:

“Nếu bà muốn từ chối không đi Mỹ, và chuyển hồ sơ đi Pháp, thì bà phải viết một lá thư xin từ chối đi Mỹ, để sau này khi ra nước ngoài bà không được kiện chúng tôi là không chuyển hồ sơ của bà sang Mỹ, vì diện của bà là diện sang Mỹ”.

Khi nghe Cao ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc nói như vậy, tôi không hề ngần ngại, mà liền viết một lá thư từ chối đi Mỹ, và xin chuyển hồ sơ của tôi sang Lãnh sự Pháp. Sở dĩ tôi phải làm như vậy, là để không bao giờ gặp lại cô ta nữa.

Và sau khi quyết định đi Pháp, thì có nhiều vị trong trại tỵ nạn như trung úy Lê Văn Trị, Trung úy Trần Đức Tâm, ông Hồ Châu, ông Hồ Văn Ngộ (là cha của hai cô Thu và cô Thi trong vụ án Thích Chánh Lạc sau này) đã rất buồn, vì muốn tôi cùng đi Mỹ với họ, nên đã khuyên can tôi đổi ý. Tôi rất quý quý vị ấy, cũng như rất buồn; nhưng tôi đành phải phải sống xa các vị, và sống xa cả những người thân của mình hiện đang có mặt tại Hoa Kỳ, nhưng tánh tôi sắt đá trong việc phân minh giữa người hiền và kẻ dữ, nên không bao giờ thay đổi quyết định của mình.

Thế là, chỉ một thời gian ngắn, khi xin tỵ nạn Cộng sản tại Pháp, sau khi được tiếp kiến, thì Phái Đoàn Pháp đã chấp nhận. Và tôi lên đường sang Pháp. Đặt chân đến Pháp quốc, tôi bắt đầu bằng nghề cắt may áo dài cho phụ nữ Việt, rồi mua đủ máy móc, để nhận áo quần của các hãng may lớn, đem về may tại nhà, để đủ lo cho các con của tôi cho đến nay đều vào các trường Đại Học; đó là một điều mà ngay cả chính quyền Thị xã, các nhà trường cũng như những người Việt ở cùng thành phố với tôi đều “khen” tôi vì vừa làm cha, vừa làm mẹ, mà vẫn lo cho các con học hành có bằng cấp Đại Học từ 5-7 năm (năm đến bảy năm), có việc làm vững chắc.

Về cô gái năm xưa,  mà tôi đã nhận làm con; sau đó, cô đã sang Mỹ, cách đây khoảng gần 10 năm, cô có gọi điện thoại sang Pháp để gặp tôi. Khi bắt điện thoại lên, tôi đã nghe một giọng nói:

“Mẹ, con gọi cho mẹ đây…”

Khi hỏi ra, tôi mới biết là chính cô gái ấy, và cô ta đã trình bày:

“Bây giờ con đã hiểu là con sai, con có lỗi với mẹ, vì nếu như ngày trước mà Liên Hiệp Quốc có làm theo ý con, thì ổng cũng không bao giờ bảo lãnh má của con đi Mỹ được, vì ổng không có thương mẹ của con, cũng không có giấy tờ gì chứng minh cả, mà ổng bả đã bỏ nhau từ trước 30/4/1975, lâu lắm rồi. Bây giờ má con mất rồi, thì con xin mẹ nhận con là con…”

Tôi cám ơn cô ta, nhưng nói với cô là tôi không dám nhận cô là con, vì một lần, là một bài học, đã quá đủ lắm rồi. Một thời gian sau, có Trung úy Châu Văn, hiện ở Cali, là một người em họ. Trung úy Châu Văn cũng là một cựu tù “cải tạo” cùng trại với tôi, đã gọi điện thoại nhiều lần và nói với tôi:

“Chị à, bây giờ con nhỏ đó hắn có chồng con rồi, nó biết có lỗi với chị, nó hối hận lắm, nó nhờ tôi nói với chị xin chị tha thứ cho nó, và hãy nhận nó làm con…”

Ngoài Trung úy Châu Văn, cũng có mấy người bà con của cô ta cũng gọi sang Pháp nói với tôi những điều như vậy; song tôi đều trả lời:

Xin đừng nói đến chuyện tha thứ, vì tôi đã tha thứ cho cô ta từ lâu rồi. Nhưng, một lần đã đủ, bài học thương người đặt không đúng chỗ ấy, suốt đời tôi không thể nào quên. Vì thế, tôi không bao giờ gặp lại cô ta nữa!

Trên đây, là lý do tôi không xin tỵ nạn Cộng sản tại Hoa Kỳ. Chuyện riêng tư này, đáng lẽ tôi không cần phải viết ra. Tuy nhiên, tôi biết lòng dạ của Trần Hùng Văn, tức Việt Thường vốn là một kẻ tiểu nhân, đê tiện, chuyên môn xuyên tạc những sự thật, chụp mũ, vu khống…  nên tôi phải giải thích cùng quý độc giả, chứ không phải “phân bua” với Trần Hùng Văn.

Và một trong vô số những chuyện đê tiện, nhỏ mọn của Trần Hùng Văn là trong một đoạn cuối của cái audio gọi là “Trả lời Thế Huy…” như sau:

“Trần Lệ Tuyền, nó đưa một tấm hình có ghi ngày 8 tháng Ba năm 2011, nhưng nó chụp đâu từ đời tám hoánh, còn nhìn vào hình nó chụp trong Lễ tưởng niệm 50 năm TT Ngô Đình Diệm trông như một bà cụ…”

Chuyện một tấm hình, nếu là người lớn thật sự, không ai lại đi soi mói như thế. Tuy nhiên, nhân đây, tôi cũng xin giải thích luôn: Tấm hình ấy, không phải tôi “chụp từ đời tám hoánh” như Trần Hùng Văn đã nói, vì tấm hình này của tôi, do một người bạn thân lúc ấy đã chụp cho tôi tại phi trường Birmingham, Anh quốc. Mà “từ đời tám hoánh”, thì tôi đâu có quen biết người nào ở bên Anh quốc, vậy tôi sang nước Anh để làm gì mà chụp hình bên đó. Và tấm hình này, vốn chụp toàn thân, nhưng sau đó, đã được cắt ra thành hình bán thân.Trần Hùng Văn cần phải biết, khi đã  nói ra một chuyện nhỏ nhặt này, thì đã chứng tỏ cho cái lòng dạ nhỏ nhen, soi mói thua kém hẳn tư cách của một thằng con nít chăn trâu tại miền Nam ngày xưa vậy.

Ông Duyên Lãng Hà Tiến Nhất đã nói về Trần Hùng Văn, tức Việt Thường:

Viết đến đây, tôi muốn xin thưa cùng quý vị, trước đây, qua mấy lần nói chuyện với ông Duyên Lãng Hà Tiến Nhất. Tôi đã được nghe chính ông Duyên Lãng Hà Tiến Nhất đã nói về Trần Hùng Văn, tức Việt Thường, mà tôi đã cho nhiều người nghe lại, nguyên văn như sau:

“Tôi đâu có tin tưởng Việt Thường, vì mỗi lần hắn gọi cho tôi, thì ban đầu hắn cũng giả vờ nói giọng gần chết, hắn cứ ho khẹc… khẹc… nhưng nói một hồi lâu, khi nói hăng quá, thì hắn quên mất, nên hắn cứ nói oang oang và cười lên hô… hố… và có lần Việt thường, hắn nói hắn chấm tử vi đúng lắm, hắn bảo tôi đưa cho hắn tên họ, ngày, tháng, năm sinh của tôi và vợ con tôi, để hắn chấm cho một lá số chính xác. Tôi nghe lời hắn, đã đưa hết cho hắn như hắn yêu cầu, nhưng rồi sau đó, hắn đi đâu không biết, vì lâu quá hắn không gọi cho tôi, mà tôi không có số điện thoại của hắn, tôi cũng có hỏi anh Chung, thì anh Chung cũng cho biết không có số điện thoại của hắn, nên tôi phải gửi email qua cho Hà Tiên tức là Phong Lan đó, để nhắn với hắn, mục đích để hỏi hắn về chuyện chấm tử vi cho gia đình của tôi…

Tôi cũng nghi ngờ Việt Thường lắm, nhất là cái chuyện hắn luôn giấu biệt tông tích của hắn, cả số điện thoại mà hắn cũng không cho tôi, cũng không cho cả anh Chung nữa … Có lần hắn gọi cho tôi, hắn nói bây giờ hắn đã ra ngoài đảo, không còn ở trong đất liền…”

Và một lần khác, ông Duyên Lãng Hà Tiến Nhất đã nói với tôi:

“Hồi trước kia, khi anh Chung chưa loại Việt Thưởng ra khỏi Hồn Việt, thì Việt Thường có nói với tôi là đã nói với anh Nguyễn Đức Chung rằng: Nếu tôi có mệnh hệ gì, thì anh Chung hãy mời ông Hà Tiến Nhất làm cố vấn, và anh Chung cũng đã đồng ý như thế, nhưng lâu nay, tôi chờ hoài, mà không thấy anh Chung nói gì với tôi cả”.

Khi tôi đem những chuyện này kể lại với ông Nguyễn Đức Chung, thì những chuyện khác chưa nói tới. Nhưng riêng về chuyện mời ông Duyên Lãng Hà Tiến Nhất làm cố vấn, thì ông Nguyễn Đức Chung đã trả lời:

“Đúng là ngày xưa, lúc tôi còn tin Việt Thường chống Cộng, lại nghe  Việt Thường nói là ông ta bị ung thư phổi vào thời kỳ cuối cùng, tôi tin luôn, nên mới đề nghị tặng một lá phổi, và tôi mới đồng ý với cả Việt Thường và ông Hà Tiến Nhất là nếu Việt Thường có mệnh hệ gì, thì sẽ mời ông Hà Tiến Nhất làm cố vấn cho tôi. Nhưng bây giờ, mọi sự đã hoàn toàn khác, vì nói “có mệnh hệ gì, thì có nghĩa là khi Việt Thường chết. Còn hiện giờ Việt Thường vẫn còn sống mạnh khỏe, không hề bị ung thư phổi thời kỳ cuối cùng. Nhất là tôi đã không còn tin tưởng Việt Thưởng và đã loại Việt Thường ra khỏi Hồn Việt rồi; trong khi đó, qua những bài viết ông Duyên Lãng Hà Tiến Nhất luôn tuyên bố Việt Thường là cùng chung chí hướng với ông Hà Tiến Nhất, lại còn dùng những “tài liệu là văn bản chính thức của đảng Cộng sản Việt Nam” do Việt Thường cung cấp, thì nếu tôi mời ông Hà Tiến Nhất làm cố vấn cho tôi, thì chẳng lẽ tôi mời ông Hà Tiến Nhất thế chỗ của Việt Thường. Như vậy, cũng vẫn là Việt Thường, đâu có khác gì đâu. Vì thế, tôi không mời ông Hà Tiến Nhất là vậy”.

Và gần đây, qua một lần điện đàm giữa ông Duyên Lãng Hà Tiến Nhất và ông Nguyễn Đức Chung, thì hai người cũng đã nhắc lại chuyện “mời ông Hà Tiến Nhất làm cố vấn”. Ngoài chuyện này, ông Duyên Lãng Hà Tiến Nhất cũng nói với ông Nguyễn Đức Chung là “tôi cũng nghi ngờ Việt Thường, không tin Việt Thường… xin cho tôi một thời gian nữa, để tôi theo dõi Việt Thường…” Cuộc điện đàm này, có lẽ ông Nguyễn Đức Chung còn lữu giữ…

Nên nhớ, những lời nói của ông Duyên Lãng Hà Tiến Nhất vẫn còn đó, chứ không phải đã “gửi gió cho ngàn bay”. Tuy nhiên, tôi không hiểu những gì ông Hà Tiến Nhất đang làm, cũng như những lời ông của DLHTN đã nói là có đúng như những suy nghĩ thật trong tâm tư của ông Duyên Lãng Hà Tiến Nhất hay không?

Trần Hùng Văn, tức Việt Thường với “khả năng nói có thành không; Nói không thành có”.

Như quý độc giả đã thấy qua hai bài viết: “Trả lời nhà báo Thế Huy qua bài: Trả lời Nhà báo Thế Huy qua bài viết: “Việt Thường, ông là ai?” Lý do tôi loại Việt Thường tức Trần Hùng Văn ra khỏi Hồn Việt UK online (Nguyễn Đức Chung). Ông Nguyễn Đức chung đã cho biết Trần Hùng Văn, tức Việt Thường đã “khoe” với ông Chung là “Tôi có khả năng nói có thành không; Nói không thành có”. Vì vậy, bởi chính cái “khả năng” này, mà Trần Hùng Văn, đã nói, đã viết ra vô số những chuyện “có thành không; Không thành có”. Mà một bằng chứng không chối cãi được, là chính Trần Hùng Văn, tức Việt Thường đã tự ý bịa đặt, dàn dựng ra những chuyện hoàn toàn không hề có để miệt thị, hạ nhục Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Ngô Đình Nhu qua loạt bài “Giấc Nam Kha khéo bất bình”  như:

“ông Diệm nghiện món bồ câu nhồi yến – Nguyễn Công Tài, con trai của Nguyễn Công Hoan đã vào miền Nam gặp ông Ngô Đình Nhu tại nhà của Mã Tuyên, vì Mã Tuyên  là người làm kinh tài cho gia đình ông Diệm v…v…”

Những điều hoàn toàn bịa đặt trong “Giấc Nam Kha khéo bất bình”, thì không riêng ai, mà bất cứ một công dân nào của nước Việt Nam Cộng Hòa, và ngay cả những người dân của miền Bắc, nói chung mọi người dân Việt,  đều có quyền lên tiếng, phân tích về những điều bịa đặt ấy, để cho mọi người, cũng như lớp hậu sinh biết thật rõ ràng về nhân cách của Tổng Thống Ngô Đình Diệm: Người đã khai sáng Thể chế Cộng Hòa tại Việt Nam: Việt Nam Cộng Hòa.

Kết luận:

Như đã thưa cùng quý độc giả, vì chúng tôi cần phải cạy cái mồm của Trần Hùng Văn, tức Việt Thường, buộc Trần Hùng Văn phải lên tiếng một lần, (bởi biết trước Trần Hùng Văn sẽ nói LÁO) để chúng tôi lên tiếng trả lời Trần Hùng Văn về những chuyện hoàn toàn bịa đặt với mục đích đê tiện, là để bêu riếu, bôi nhọ chúng tôi. Và như anh HN đã viết “một lần rồi thôi”, không bao giờ trả lời Trần Hùng Văn nữa, mặc cho Trần Hùng Văn có muốn vẽ vời, bịa đặt ra bất cứ một chuyện gì, thì cũng như Trần Hùng Văn đã bịa ra những câu chuyện LÁO như sau:

1- “Hàn Giang Trần Lệ Tuyền đã từng ở trong “Liên Khu 5 của VGCS”.

Nhưng sự thật, thì vào thời điểm có cái gọi là “Liên Khu 5” của Việt cộng, (khoảng năm 1946-1947) thì lúc ấy, Cha tôi chưa gặp, chưa cưới Mẹ của tôi. Nghĩa là tôi chưa được sinh ra đời.

2- “Năm 1979, Hàn Giang Trần Lệ Tuyền đã được VGCS cho sang Pháp, để xâm nhập vào tổ chức của ông Trần Văn Bá, để giết chết ông Trần Văn Bá”.

Trong khi quý vị Cựu Tù Nhân Chính Trị Quảng Nam-Đà Nẵng đã chứng kiến vào năm 1979, tôi, Hàn Giang Trần Lệ Tuyền vẫn còn đi đốn củi, cuốc đất trồng sắn, cấy, gặt… dầm mình dưới những đồng ruộng sình lầy sâu tới bụng, tới ngực làm mồi cho đỉa trong “Trại T.154”, tức “Trại cải tạo” Tiên Lãnh, Tiên Phước, Quảng Nam.

3- “Hàn Giang Trần Trần Lệ Tuyền đã đi với Hoàng Duy Hùng sang Thái Lan, để bán 320 đảng viên Đại Việt cho Việt cộng”.

Đây cũng là một trong số câu chuyện hoàn toàn bịa đặt vô cùng LÁO KHOÉT của Trần Hùng Văn, tức Việt Thường, vì bản thân tôi chưa hề đặt chân tới đất Thái Lan; chưa bao giờ có giao tiếp với đảng Đại Việt.

Và để kết thúc bài này. Tôi, Hàn Giang Trần Lệ Tuyền xin phép quý độc giả để thưa cùng quý vị đã từng bị Trần Hùng Văn, tức Việt Thường vu khống, chụp mọi thứ mũ, thì hãy xem những cái mũ LÁO, mà Trần Hùng Văn đã chụp cho tôi, thì chắc chắn sẽ hiểu thêm rằng: Trần Hùng Văn, tức Việt Thường sẽ không từ bất cứ một hành vi tiểu nhân, đê hèn, ti tiện, bỉ ổi nhất…, để tìm cách chụp nhiều cái mũ khác cho bất cứ một người nào, mà Trần Hùng Văn, tức Việt Thường thấy cần phải “vùi dập” cho tới “chết”.

Tuy nhiên, có “vùi dập” có làm cho người nào “chết” được hay không lại là chuyện khác! “Mưu sự tại nhân; Thành sự tại thiên”, nênTrần Hùng Văn, tức Việt Thường cần phải ghi nhớ:

“Trên đường đi,  nếu mỗi lần chó sủa là mỗi lần ta dừng bước, thì ta sẽ không bao giờ đi tới tới mục đích sau cùng”.

Và một lần nữa, Hàn Giang Trần Lệ Tuyền xin phép quý vị, để được nhắc lại một câu ngắn, mà tôi đã từng gửi lên các diễn đàn như sau:

Nếu có một ai đó, tự ý muốn vẽ chân dung cho mình; Nhưng lại hoàn toàn không giống mình, thì “bức chân dung” ấy, không bao giờ là của mình cả.

Xin chân thành cám ơn quý vị, đã chịu khó đọc hết những dòng chữ “chân quê” này. Kính chúc Qúy vị cùng gia đình luôn được Bằng An-Thăng Tiến.

Trân trọng,

Paris ngày 03/10/2014

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền