Tình trạng thiếu lao động và thất nghiệp của Hoa Kỳ
Tác giả : Antonio Graceffo Nguồn: Báo Mai Ngày đăng: 2022-09-02
Năm 2021, có hơn 47 triệu người lao động bỏ việc, nhiều hơn đáng kể so với con số 42 triệu vào năm 2019. Trong đó, một số người nghỉ việc là do các quy định bắt buộc chích ngừa, nhưng còn có nhiều điều để nói hơn đối với câu chuyện thiếu nhân công này.
Năm 2019, tỉ lệ thất nghiệp là 3.6%. Năm 2020, Tỉ lệ này tăng lên 6.7% và giảm xuống 3.9% vào năm 2021. Tính đến tháng 07/2022, tỉ lệ thất nghiệp đã giảm xuống còn 3.5%, thấp hơn một chút so với mức trước đại dịch COVID. Nhưng điều này không nhất thiết có nghĩa là tất cả những người đã có việc làm trong năm 2019 đều trở lại làm việc.



Tỉ lệ thất nghiệp được xác định bằng cách chia số người thất nghiệp cho toàn bộ lực lượng lao động. Để được xem là thất nghiệp, một người lao động phải trên 16 tuổi, phải sẵn sàng làm việc, và đã tích cực tìm việc trong tháng trước đó rồi.
Người lao động bị sa thải tạm thời không đủ tiêu chuẩn được xem là người thất nghiệp. Những người đã rời khỏi lực lượng lao động, những người không còn mong muốn làm việc nữa, cũng không được tính. Một giả thuyết cho rằng các số liệu thất nghiệp thấp vì mọi người không còn đi tìm kiếm việc làm nữa và do đó, không còn được tính [vào số người thất nghiệp] nữa. Giả thuyết này cũng giải thích tại sao các công ty gặp khó khăn trong việc tìm kiếm nhân viên. Lời giải thích này là có cơ sở, nhưng bức tranh thực sự của thị trường việc làm còn phức tạp hơn thế nhiều.



Nhìn vào những thay đổi về quy mô của lực lượng lao động dân sự Hoa Kỳ, những người đang tìm kiếm một công việc mà không phải trong quân đội, có thể làm sáng tỏ những gì đang xảy ra trên thị trường lao động. Trong năm 2019, lực lượng lao động là 163.54 triệu người. Năm 2020, con số này giảm xuống còn 160.74 triệu người do hàng triệu người rời bỏ thị trường việc làm. Vào năm 2021, con số này đã tăng lên 161.2 triệu người và đứng ở mức 163.96 triệu người vào tháng 07/2022. Trong khi con số này quay trở lại mức trước đại dịch COVID, thì xu hướng này lại là bất thường. Các con số đã được dự kiến tăng mỗi năm như đã diễn ra từ năm 1960 đến năm 2020 là do sự nhập cư và những thanh niên trong độ tuổi lao động.



Số liệu về thất nghiệp và thiếu hụt lao động hơi mang tính phản trực giác. Trong những tuần đầu của đại dịch hồi năm 2020, khoảng 20 triệu việc làm đã bị mất, nhưng hầu hết trong số đó đã được phục hồi. Và tính đến thời điểm này trong năm nay, các nhà tuyển dụng đã tạo ra hơn 6 triệu việc làm. Trong tháng Năm, số lượng việc làm vượt quá số người tìm việc gần gấp 2 lần. Do đó, người ta có thể tin rằng có nhiều việc làm hơn số người lao động.
[Nhưng] cùng lúc, theo dữ liệu của Linkedin, việc tuyển dụng trên tất cả các ngành đã giảm 5.4% trong tháng qua. Đặc biệt là lĩnh vực công nghệ đã bị ảnh hưởng nặng nề với tỉ lệ tuyển dụng giảm 9.1%. Các công ty đã thông báo cắt giảm việc làm hoặc đóng băng tuyển dụng bao gồm Netflix, Tesla, và Coinbase, trong khi Vimeo đang sa thải 6% nhân viên của mình.



Một sự suy thoái kinh tế chung có thể là một dự báo hàng đầu về tỉ lệ thất nghiệp sắp tới. Các hãng truyền thông xã hội, truyền thông truyền thống, và các công ty công nghệ nằm trong số những công ty có sự sụt giảm doanh số nhiều nhất. Doanh thu quảng cáo giảm do các công ty chi tiêu ít hơn, khi dự đoán người tiêu dùng cũng sẽ hạn chế chi tiêu của họ. Chăm sóc cơ thể, chăm sóc sức khỏe, và làm đẹp đắt tiền là những lĩnh vực mà mọi người thường giảm chi tiêu trong nền kinh tế eo hẹp, nhưng ngay cả các nhà bán lẻ truyền thống như Walmart cũng đang cắt giảm triển vọng lợi nhuận của họ. Với việc doanh số bán hàng giảm, các công ty đang tìm cách tiết kiệm tiền bằng cách cắt giảm nhân viên.
7-Eleven đã sa thải 900 công nhân của công ty ở Texas và Ohio. Ford đang có kế hoạch cắt giảm 8,000 vị trí, nhà sản xuất xe hơi điện Rivian cắt giảm 700 vị trí, công ty khởi nghiệp về dịch vụ giao hàng Gopuff đang cho 1,500 lao động rời đi, và công ty cho vay thế chấp LoanDepot đang loại bỏ 4,800 việc làm trong năm nay. Có vẻ như, nếu hiện nay tỉ lệ thất nghiệp chưa phải là đặc biệt cao, thì Tỉ lệ này sẽ tăng lên.
Từ giữa tháng Ba đến cuối tháng Bảy, hồ sơ đăng ký nhận trợ cấp thất nghiệp lần đầu đã tăng 51%. Cục Dự trữ Liên bang đang có kế hoạch tăng lãi suất một lần nữa để giảm lạm phát và ước tính tỉ lệ thất nghiệp sẽ tăng lên 4.1% vào năm 2024. Giảm việc làm dự kiến sẽ xảy ra dưới hình thức ít các vị trí tuyển dụng mới hơn và ít tạo việc làm hơn là sa thải trên diện rộng.
Trong một vòng luẩn quẩn, sa thải, cắt giảm nhân viên, và thiếu nhân công thực sự có thể là một trong những lý do bỏ việc. Một số người lao động xem kiệt sức là lý do để họ bỏ việc. Việc nhân viên kiệt sức là do họ bị buộc phải đảm nhiệm nhiều vai trò khi người sử dụng lao động thiếu nhân sự.
Một vấn đề khác khiến tình trạng thất nghiệp và thiếu hụt lao động thêm phần bế tắc là trí tuệ nhân tạo (AI) bị lỗi trong nhu liệu tuyển dụng từ chối các ứng cử viên đủ điều kiện. Nhiều hệ thống tuyển dụng được thiết lập để từ chối những ứng viên không có việc làm trong sáu tháng. Những đợt phong tỏa COVID trong năm 2020 và 2021 đã khiến một số lượng lớn người dân bị cách quãng về việc làm. Giờ đây, mặc dù họ muốn trở lại làm việc, nhưng AI buộc họ phải thất nghiệp.



Một nghiên cứu của Đại học Harvard ước tính rằng khoảng một nửa số người nộp đơn cho các vị trí có tay nghề cao đang bị loại ra. Khoảng 2/3 số người lao động Mỹ đạt yêu cầu nhờ có các kỹ năng hơn là vì họ có các tấm bằng đại học, nhưng các ứng dụng tuyển dụng thường loại bỏ các hồ sơ xin việc của họ vì không đáp ứng được yêu cầu về trình độ học vấn căn bản.
Có lo ngại cho rằng nếu công chúng xem việc cắt giảm việc làm, sa thải, và đóng băng tuyển dụng là một xu hướng, thì họ sẽ tin rằng Hoa Kỳ đang rơi vào một cuộc suy thoái. Nỗi sợ hãi về suy thoái có thể trở thành một lời tiên tri tự thành hiện thực khi mọi người giữ tiền mặt, ngại chi tiêu. Nếu mọi người chi tiêu ít hơn, các tập đoàn sẽ bị giảm doanh thu và sẽ sa thải người lao động, do đó, điều này sẽ củng cố và xác nhận nỗi lo ngại về một cuộc suy thoái kinh tế.
Antonio Graceffo
----------