CHIỀU ĐÔNG
Tác giả : Trần Trung Đạo Nguồn: Chính Nghĩa Việt Nam Cọng Hòa Ngày đăng: 2020-02-25
(Kính tiễn Giác Linh Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ)
Một ngày tháng 8 năm 1992, tôi nhận được một bài thơ của một người bạn tin cẩn gởi từ trong nước. Anh chép tám câu thơ của Hòa Thượng Thích Quảng Độ nhưng không có tựa.
Tôi đọc và rất cảm động. Qua từng câu thơ tôi hình dung cảnh cô đơn, trống vắng, quạnh hiu mà Thầy đang sống trong thời gian lưu đày ở Thái Bình trong một buổi chiều đông.
Sau 1975, giữa lúc gần hết mọi người đều đi theo chiều gió, Thầy cố bước ngược chiều để mong cứu vớt những gì còn sót lại sau những điêu tàn, đổ nát. Tinh thần vô úy của đạo Phật đã giúp Thầy vượt qua bao thử thách, cực hình, đày đọa.
Trong đêm tối giữa nhà lao Phan Đăng Lưu hay trong buổi chiều mưa tầm tã tay dắt bà mẹ già 90 tuổi trên đường lưu đày từ Sài Gòn ra Vũ Đoài, Thái Bình, Thầy vẫn một tấm lòng son sắt với quê hương và đạo pháp.
Chúng ta sống trên đất tự do, dễ dàng nói với nhau về yêu nước, yêu đạo, dễ dàng nói với nhau về hy sinh, đại nguyện. Nhưng nếu chúng ta sống một đêm, một đêm thôi, trong đau thương trăn trở giữa ngục tối Hàm Tân như HT Thiện Minh, một đêm mang nặng ưu tư đau nhức tại nhà tù Phan Đăng Lưu như HT Quảng Độ, một đêm trầm mặc suy tư trên mỗi bước thiền hành ở Quảng Ngãi như HT Huyền Quang, chắc chắn chúng ta sẽ hiểu ra rằng Bồ Tát giống tất cả chúng ta nhưng chúng ta không phải dễ dàng là Bồ Tát.
Ngày đó không có mạng xã hội Facebook như bây giờ. Chúng tôi là một nhóm vài trăm người sinh hoạt với nhau trong giai đoạn Internet còn rất phôi thai.
Tôi gởi bài thơ cho cả nhóm đọc. Nhưng bài thơ thì phải có tựa. Tôi không nói với ai, chỉ im lặng và mạo muội đặt tựa là "Chiều Đông", phía dưới viết tên tác giả HT Thích Quảng Độ. Luôn dịp tôi họa lại bài thơ của Thầy đặt tựa "Tấc Lòng Son", và sau đó in trong tập "Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười" xuất bản lần đầu tại San Jose cuối năm 1992.
Trước ngày Thầy bị bắt và tôi chưa rời Việt Nam, mỗi tuần tôi thường gặp Hòa Thượng đi bộ từ chùa Giác Minh trên đường Lý Thái Tổ xuống ngã sáu Trần Quốc Toản, để từ đó đón xe Lam qua Thanh Minh Thiền Viện giảng thiền học. Dáng Thầy thanh cao, vầng trán rộng, miệng Thầy luôn mỉm cười như chúng tôi thường bắt gặp trong những ngày trước 30-4-1975 ở Đại Học Vạn Hạnh. Phải chăng ngay cả trong lúc mang nặng ưu tư về tiền đồ dân tộc và đạo pháp, tâm Hòa Thượng Quảng Độ vẫn an nhiên, tự tại.
Thầy dạy Triết Đông và tư tưởng Phật Giáo cho sinh viên các khoa Khoa Học Nhân Văn và Phật Khoa. Tôi không trực tiếp được học Thầy. Nhưng những buổi giảng chuyên đề của các thầy thường mở rộng cho sinh viên các ban khác. Ngày đó tôi còn nhỏ nhưng may mắn được nhiều lần ngồi nghe các thầy dạy bảo. Hòa thượng Quảng Độ, Hòa thượng Minh Châu, Hòa thượng Mãn Giác, Hòa thượng Thuyền Ấn v.v.. Mỗi thầy một nét. Cao siêu nhưng gần gũi. Giản dị nhưng thâm trầm.
Những hạt giống nhân duyên các thầy gieo xuống tâm hồn tôi nay đã lớn lên. Kỷ niệm không bao giờ chết. Kỷ niệm lớn như cây. Nếu biết chăm sóc, kỷ niệm cũng nở hoa như những loài hoa tươi đẹp khác.
Ba mươi tháng Tư, 1975, chúng tôi như bầy chim bay tán loạn bốn phương trời. Dù phải sải cánh bao xa, chúng tôi đều mang theo trong tâm hồn mình những bóng mát của một thời tuổi trẻ. Thời của tuổi mười tám với buồng phổi căng đầy sức sống. Bóng mát đó là các thầy. Bóng mát đó là thiền viện, thư viện, giảng đường, và bóng mát đó là lý tưởng Duy Tuệ Thị Nghiệp.
Hành trình đầy bi tráng của Thầy trong suốt 10 năm bị bắt giam, tra tấn và lưu đày cùng với bà mẹ già 90 tuổi ở Thái Bình đã để lại một niềm thương yêu và kính phục sâu xa, không những trong lòng nhiều triệu Phật Giáo đồ Việt Nam, dân tộc Việt Nam mà cả trong cộng đồng nhân loại.
Bài thơ của Thầy:
CHIỀU ĐÔNG
Nghe lòng xa vắng những chiều đông
Nhìn nước mênh mông khắp mặt đồng
Bát ngát núi xa mờ bóng cọp
Thăm thẳm trời cao bặt cánh hồng
Bao độ cà tan cà nở nụ
Mấy mùa lúa rụng lúa đơm bông
Năm tháng mỏi mòn đầu đã bạc
Còn chút lòng son gởi núi sông

HT Thích Quảng Độ,
(Thơ Tù HT Thích Quảng Độ, trang 265)
TẤC LÒNG SON
Lời thầy vang vọng giữa chiều đông
Hương ngát vô ưu rót tận lòng
Mây nước muôn trùng tan với hợp
Quê hương ngàn dặm có mà không
Tóc xưa dẫu bạc lòng không đổi
Áo cũ dù phai giữ đạo đồng
Mười năm trải một lòng son sắt
Tiếng vọng ngàn thu với núi sông.

Trần Trung Đạo,
(Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười, trang 126)
Cách đây vài năm, khi nhận được thi tuyển Thơ Tù của HT Thích Quảng Độ lần đầu, tôi hồi hộp đọc phần mục lục trước để xem Thầy đặt tựa bài thơ là gì.
Tôi rất vui và cảm động khi biết Thầy cũng đặt tựa bài thơ là Chiều Đông. Tôi thầm cám ơn Thầy đã cho phép tôi được sống trong cùng một tâm cảm với Thầy.
Thầy là rừng, tôi chỉ là chiếc lá nhưng nhờ có nhân duyên lá và rừng được sống với nhau trong một chiều đông.
Sáng hôm qua, trong lúc đang đi bộ trên đường nhỏ trong xóm tôi nhận một tin nhắn của một Phật tử tin cẩn từ trong nước “Hòa thượng Quảng Độ vừa viên tịch”. Tôi lặng người. Không phải vì Thầy ra đi sớm nhưng vì Thầy ra đi.
Đại Lão Hòa thượng Thích Quảng Độ viên tịch chấm dứt một chương dày 45 năm trong lịch sử đầy thăng trầm của Phật Giáo Việt Nam. Những chương mới sẽ mở ra nhưng sẽ khác hơn nhiều.
Trong tất cả tôn đức chịu đựng tù đày, Thầy là vị đã sống trong tù lâu nhất. Từ tháng 6, 1977 cho đến khi viên tịch, Thầy vẫn là một tù nhân của chế độ CS tại Việt Nam.
Chín mươi năm từ khi tiếng gậy trúc của chư tổ vang lên ở các tổ đình khởi đầu cho công cuộc phục hưng Phật Giáo. Trong thời gian đó, bao nhiêu đổi thay đã xảy ra cho đất nước Việt Nam và cho Đạo Phật tại Việt Nam. Hôm nay, một trong những vị còn lại của thế hệ phục hưng Phật Giáo vừa viên tịch. Con thuyền đạo pháp như Thầy nhấn mạnh sau 1975 vẫn còn chênh vênh và niềm trăn trở cho quê hương của Thầy vẫn còn trăn trở.
Nhưng áng mây bay đi sẽ mang về những giọt nước cho cánh đồng khô. Không có gì còn hay mất. Chỉ là những dạng khác nhau trong một cuộc vận hành. Cành mai Quảng Độ vừa rơi xuống nhưng như Thiền Sư Mãn Giác đời Lý viết, sáng mai đây, những cành mai khác lại sẽ nở ra.
Bước chân của Thầy không còn nghe nhưng tình yêu của Thầy dành cho quê hương vẫn sáng như ánh trăng rằm, đậm đà như mùi hương của đất và dạt dào như lời thơ Thầy viêt trong một Chiều Đông năm đó.
Từ nước Mỹ xa xôi, con cúi đầu đảnh lễ giác linh Thầy.
Trần Trung Đạo
------
Tâm tình của Phật tử Đặng văn Âu với Nguyễn Đắc Xuân về Hòa Thượng Thích Quảng Độ
Tác giả : Đặng văn Âu Ngày đăng: 2020-02-25
Xuân ơi!
Không phải tại vì tao là người Chống Cộng cực đoan hay Chống Cộng quá khích như bọn cộng sản hay bọn thân cộng thường cáo buộc tao [mà tao viết thư này cho mày].
Tao là người cùng thờ Phật như mày. Chúng ta đều hiểu một cách sâu sắc rằng luật của Nhà Phật là sám hối.
Phàm bao lâu làm người là còn phạm tội. Cho nên, trong đạo Thiên Chúa hay đạo Phật đều đặt nặng vấn đề sám hối để giải thoát. "Tự giác giác tha" là lời dạy bất di bất dịch.
Ngài Quảng Độ đã đi tu từ chú tiểu, lên Đại đức, Thượng Tọa, Hòa thượng, Tăng Thống, chắc chắn Ngài hiểu điều đó hơn ai hết. Chiến tranh Nam Bắc mà có là do bọn Cộng Sản vô thần phát động để nhuộm đỏ toàn cầu. Dù là cậu học trò trình độ tiểu học cũng thấy điều đó.
Tất cả mọi người Việt Nam ở phía Bắc hay phía Nam Vỹ tuyến 17 đều mong muốn hòa bình. Bởi vì chiến tranh thì gây nên đổ nát, tan tóc, chia lìa, máu đổ thịt rơi. Các ông Thượng tọa, Hòa thượng đều biết rõ như vậy, nhưng họ vận động hòa bình mà chỉ đòi đuổi Mỹ rời khỏi Việt Nam, yêu cầu Quân Lực Miền Nam buông súng, trong khi đó họ không hề có đòi hỏi quân xâm lược Miền Bắc rút khỏi Miền Nam.
Nhân danh một người lính gìn giữ bờ cõi, tao rất khinh những ông Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức đấu tranh hòa bình một chiều, bởi vì họ gian lận làm theo chỉ thị của Miền Bắc; chứ không phải vì lương tâm chân chính của người tu hành lấy Đức Từ Bi làm phương châm.
Ngài Quảng Độ và những nhà tu khác tưởng bở, nên mới nghĩ họ sẽ được đền ơn sau khi cái gọi là "Cách Mạng" chiến thắng cuộc xâm lược, không ngờ bị đối xử như con vật (có mồm không được nói) thì mới nhảy ra tranh đấu vì Đạo Pháp! Những ông nhà sư tranh đấu như Hộ Giác, Mãn giác... trước năm 1975, vượt biên ra hải ngoại, tao rất nghi ngờ những ông sư nay ra ngoài để làm công tác tôn giáo vận, bởi vì tao không hề nghe các ông ấy nói một lời sám hối hay một lời lên án sự tàn bạo của quân xâm lược sau năm 1975 để cho hàng trăm ngàn người chết trên Biển Đông.
Tao đã đọc những lời thơ của Ngài Quảng Độ, nhưng tao không hề có một chút rung cảm (không phải vì tao vô cảm), nhưng tao biết những lời thơ đó không thật xuất phát tự đáy lòng của ông Hòa thượng.
Nhà thơ Trần Trung Đạo làm bài thơ cho Mẹ có câu "đổi lấy thiên thu, tiếng Mẹ cười..." rất hay trên mặt hình thức, nhưng Mặt Trận Kháng Chiến Hoàng Cơ Minh làm cho nhiều Bà Mẹ Việt Nam khóc ròng, nhưng chưa bao giờ tao nghe nhà thơ Trần Trung Đạo có một lời phê phán Mặt Trận Hoàng Cơ Minh đẻ ra nhiều tổ chức bịp bợm để lừa đảo đồng bào ngây thơ.
Xuân ơi! Tao nói thẳng cho mày biết các Chùa ở hải ngoại là cơ sở kinh tài của Việt Cộng, vì các sư từ trong nước được xuất cảng ra hải ngoại để làm trụ trì đều là sư quốc doanh (Công An trá hình). Đạo hữu Phật tử dù biết như vậy, nhưng vẫn tấp nập đến Chùa làm công quả, cúng dường Tam Bảo một cách thành kính.
Không phải tao bi quan, nhưng người Việt mình như thế thì coi như hết thuốc chữa. Làm sao có thể tưởng nổi một anh Trung tá Không Quân xuất thân từ Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt mà có thể muối mặt khúm núm, cười nham nhở với một thằng nhà giàu mới (nouveau riche) nói năng hỗn hào như côn đồ lên giọng dạy bảo thiên hạ "hiểu chưa"?!
Cám ơn mày đã gửi cho tao đọc bài thơ của Ngài Quảng Độ để tao phải nói lên sự thật đau lòng này.
Thân chúc mày dồi dào sức khỏe. Tao xưng "mày tao" với mày để nhớ lại một chút gì của ngày xưa thân ái. Đừng buồn tao nghe mày!
Thân ái,
Bằng Phong Đặng văn Âu,
thằng bạn cũ của mày.

----------